Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139A/2023/DS-PT

Ngày: 22-12-2023

V/v tranh chấp về quyền sử dụng

đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản

trở quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Bảo.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Thịnh;

Bà Lê Thị Anh Đào.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Cẩm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam: Ông Lương Quốc Phòng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp về quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 166/2023/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 110/2023/QĐ-PT ngày 20 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Trần Thị P, sinh năm 1982.

    Địa chỉ: Số I đường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Phùng Phạm P1, sinh năm 1984; địa chỉ: Số I đường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

  2. Bị đơn: ông Đinh Văn L, sinh năm 1965.

    Địa chỉ: Kiệt C đường T, Khối phố E, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: bà Đinh Thị L1, sinh năm 1991; địa chỉ: Kiệt C đường T, Khối phố E, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965;
    • - Ông Đinh Văn L2, sinh năm 1995.

    Cùng địa chỉ: Kiệt C đường T, Khối phố E, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

    • - Ông Phùng Phạm P2, sinh năm 1984.

    Địa chỉ: Số I đường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

  4. Người kháng cáo: bị đơn ông Đinh Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các văn bản có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Trần Thị P trình bày:

Trước đây, vào năm 2007, do có nhu cầu mua đất làm nhà ở nên bà và chồng là ông Phùng Phạm P1 gặp ông Đinh N để mua lại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 24, tại phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vợ chồng bà thỏa thuận để một mình bà đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng đây là tài sản chung của vợ chồng bà. Sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đã được Ủy ban nhân dân thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DE 735533, số vào sổ CH 04182 ngày 26/8/2022, diện tích 79,4m². Do có nhu cầu làm nhà nên bà đã xin phép và được Ủy ban nhân dân thành phố T cấp Giấy phép xây dựng. Trong quá trình xây dựng, ông Đinh Văn L cản trở gia đình bà sử dụng đất nên bà gửi đơn đến Ủy ban nhân dân phường A để giải quyết nhưng ông L vẫn cố chấp, dù không có giấy tờ gì liên quan đến thửa đất mà Ủy ban nhân dân thành phố T đã cấp cho bà. Đã nhiều lần thương lượng nhưng gia đình ông L vẫn cản trở, không cho thợ tiến hành xây dựng trên thửa đất mà bà đã nhận chuyển nhượng từ ông N.

Vì vậy, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đinh Văn L chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất của bà tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 24 thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; đồng thời, yêu cầu vợ chồng ông L thu dọn đống củi trên đất, trả lại cho bà diện tích đất đã lấn chiếm theo kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng Đ là 15,7m². Bà thống nhất với chứng thư thẩm định giá tài sản, không có yêu cầu gì thêm.

Tại các văn bản có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là ông Đinh Văn L trình bày:

Ông chỉ không đồng ý cho bà P xây dựng nhà trên thửa đất số 37, tờ bản đồ số 24, tại phường A đối với phần đất giáp với đường bê tông, qua đo đạc là 15,7m². Sở dĩ ông không đồng ý cho bà P xây dựng nhà trên diện tích đất 15,7m² nêu trên là do diện tích đất này nguyên trước đây thuộc khu vườn do ông bà của ông để lại cho ông quản lý, sử dụng. Sau đó, ông hiến đất làm đường đi nên phần diện tích đất này nằm ở bên kia đường. Trước đây, ông trồng tre trên diện tích đất này, sau đó tranh chấp tre với ông C và Tòa án đã xét xử là tre của ông C nhưng đất không phải của ông C. Sau khi con ông N bán những bụi tre thì gia đình ông chất củi trên diện tích đất này. Vợ chồng ông đã yêu cầu đo đạc lại đất nên địa chính phường và thành phố có xuống đo đạc theo yêu cầu của ông là đo từ nhà ông C1 đến mương nước, nhưng địa chính chỉ đo đến nhà ông C1, còn từ nhà ông C1 đến mương nước thì nói đất tranh chấp không đo được.

Diện tích đất của ông là do ông bà để lại nằm ở trước phần đất của ông N và trước phần đất của ông M (đất ông M đã chuyển nhượng lại cho ông C1). Vừa qua, phần đất trước nhà ông C1 thì ông C1 đã thỏa thuận mua lại của gia đình ông với giá 5.000.000 đồng/m², tổng cộng 15m² có giá là 75.000.000 đồng.

Nay, ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà P, ông không cho xây dựng và không đồng ý trả diện tích đất 15,7m² đang tranh chấp và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông thống nhất với chứng thư thẩm định giá tài sản, không có yêu cầu gì thêm.

Tại các văn bản có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phùng Phạm P2 trình bày: ông thống nhất với phần trình bày của bà P. Tuy thửa đất nêu trên là của ông và bà P mua nhưng để một mình bà P đứng tên. Ông thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu vợ chồng ông L chấm dứt hành vi cản trở bà P sử dụng đất và trả lại diện tích đất cho bà P. Ông không có yêu cầu hay trình bày gì thêm.

Tại các văn bản có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T và ông Đinh Văn L2 thống nhất với phần trình bày của ông L. Ông L2 bổ sung: gia đình ông N bán đất cho bà P nhưng gia đình ông không hề hay biết.

Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 166/2023/DS-ST ngày 09-8-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 106, Điều 169 Bộ luật Dân sự; Điều 12, Điều 95, Điều 96, Điều 100, Điều 166, Điều 167, Điều 169, Điều 170, Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị P đối với ông Đinh Văn L về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất.
  2. Buộc ông Đinh Văn L, bà Nguyễn Thị T, ông Đinh Văn L2 chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất, di dời tài sản trên đất là 01 đống củi được sắp xếp cao 1,1m, trả lại cho bà Trần Thị P diện tích đất 15,7m² tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 24, thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, đã được Ủy ban dân dân thành phố T, tỉnh Quảng Nam cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 053493 ngày 26/8/2022, có tứ cận: phía Đông giáp mương nước (đã được lấp đất bằng); phía

Tây giáp thửa đất số 38, tờ bản đồ số 24; phía Nam giáp đường bê tông; phía Bắc giáp thửa đất số 37, tờ bản đồ số 24. (Có sơ đồ trích đo kèm theo).Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/8/2023 bị đơn ông Đinh Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán được phân công trực tiếp giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ lý vụ án, về thời hạn giải quyết vụ án, về việc chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đinh Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn ông Đinh Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T giữ nguyên kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Đinh Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T thì thấy:

[2.1] Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp sơ thẩm và kết quả chồng ghép hồ sơ địa chính, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với hiện trạng sử dụng đất thì diện tích đất tranh chấp 15,7m² thuộc một phần thửa đất số 37, tờ bản đồ số 24, diện tích 79,4m² tại phường A, thành phố T được Ủy ban nhân dân thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 053493 ngày 26/8/2022 cho hộ bà Trần Thị P.

[2.2] Theo Biên bản xác minh ngày 31/5/2023 của Tòa án cấp sơ thẩm tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T, thể hiện: về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp 15,7m2, theo hồ sơ Nghị định 60/CP của Chính phủ thuộc thửa đất số 109, tờ bản đồ số 22, diện tích 184,4m², loại đất Hb (đất hoang) do Ủy ban nhân dân phường A đứng tên kê khai, nhưng trên thực tế đất này do ông Đinh N quản lý, sử dụng. Sau đó, ông N chuyển nhượng cho bà Trần Thị P bằng giấy viết tay và bà P lập thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật. Thửa đất số 37 hiện nay (trong đó có diện tích đất tranh chấp) và thửa đất số 76 của ông Đinh Văn L quản lý, sử dụng, theo hồ sơ Nghị định 60/CP của Chính phủ là 02 thửa riêng biệt. Diện tích đất tranh chấp 15,7m² nêu trên, theo hồ sơ địa chính từ trước đến nay ông Đinh Văn L không có đăng ký, kê khai.

[2.3] Như vậy, từ trước đến nay, ông Đinh Văn L không có kê khai, đăng ký và quản lý, sử dụng đối với diện tích đất tranh chấp 15,7m² mà do ông Đinh N quản lý, sử dụng, sau đó chuyển nhượng lại cho vợ chồng bà Trần Thị P, ông Phùng Phạm P2. Ngày 26/8/2022, hộ bà Trần Thị P được Ủy ban nhân dân thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo đúng quy định của pháp luật. Ông L cho rằng diện tích đất tranh chấp 15,7m² nguyên trước đây thuộc khu vườn do ông bà của ông để lại cho ông quản lý, sử dụng nhưng không có chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận.

[2.4] Từ những nhận định nêu trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà P về việc buộc ông L, bà T tháo dỡ, di dời tài sản trên đất, trả lại diện tích đất 15,7m² và buộc ông L, bà T, ông L2 chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tranh chấp nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đinh Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm theo như đề nghị của Kiểm sát viên.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được Tòa án chấp nhận nên ông Đinh Văn L và bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đinh Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 166/2023/DS-ST ngày 09-8-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 38, 39, 147, 148, 157, 158, 165 và 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 và Điều 169 của Bộ luật Dân sự; các Điều 12, 95, 100, 166, 170 và 203 của Luật Đất đai năm 2013; các Điều 26, 27 và 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị P đối với bị đơn ông Đinh Văn L về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất.

Buộc ông Đinh Văn L, bà Nguyễn Thị T, ông Đinh Văn L2 chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất và di dời tài sản trên đất (là 01 đống củi được sắp xếp cao 1,1m), trả lại cho bà Trần Thị P diện tích đất 15,7m² thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 24, tại phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, đã được Ủy ban dân dân thành phố T, tỉnh Quảng Nam cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 053493 ngày 26/8/2022; có tứ cận: phía Đông giáp mương nước (đã được lấp đất bằng); phía Tây giáp thửa đất số 38, tờ bản đồ số 24; phía Nam giáp đường bê tông; phía Bắc giáp thửa đất số 37, tờ bản đồ số 24 (có sơ đồ trích đo kèm theo bản án sơ thẩm).

Về chi phí tố tụng: buộc ông Đinh Văn L, bà Nguyễn Thị T, ông Đinh Văn L2 trả lại cho bà Trần Thị P số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 10.465.000 (Mười triệu, bốn trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Án phí dân sự sơ thẩm: buộc ông Đinh Văn L, bà Nguyễn Thị T, ông Đinh Văn L2 phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

Hoàn trả cho bà Trần Thị P số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009988 ngày 09/02/2023 và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010232 ngày 08/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

Án phí dân sự phúc thẩm: ông Đinh Văn L và bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông L và bà T đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008242 ngày 07/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (22/12/2023).

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - TAND thành phố Tam Kỳ;
  • - VKSND thành phố Tam Kỳ;
  • - Chi cục THADS thành phố Tam Kỳ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Quốc Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139A/2023/DS-PT ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về tranh chấp về quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 139A/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị P yêu cầu ông Đinh Văn L trả lại diện tích đất 15,7m2
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger