Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 139/2024/HS-PT

Ngày: 31/7/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Giang;

Các Thẩm phán: ông Nguyễn Việt Hùng và bà Phạm Thị Chuyền.

Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Ngọc Anh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: ông Hoàng Tùng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 31/7/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 134/2024/TLPT-HS ngày 22/5/2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 34/2022/HSST ngày 15/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1987, tên gọi khác: không; Giới tính: Nam.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; bố: Nguyễn Văn T, sinh năm 1957; mẹ: Lê Thị T1, sinh năm 1963; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 02; vợ: Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1986; bị cáo có 01 con sinh năm 2014.

Nhân thân: Bản án số 20/HSST ngày 30/05/2005 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 16/12/2023 đến ngày 19/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

Trong vụ án này còn có một số bị cáo khác không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo, Tòa phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 20 ngày 16/12/2023, tại quán N1 ở tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, Công an huyện L phối hợp với Công an thị trấn Đ, huyện L bắt quả tang Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1987 trú tại tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là chủ quán); Nguyễn Văn M, sinh năm 1978 ở tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L và Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1982 ở tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi đánh bạc, hình thức đánh sâm, sát phạt nhau bằng tiền bằng bộ tài tú lơ khơ 52 quân. Khi bắt quả tang lợi dụng sơ hở Thân Văn T2, sinh năm 1996 trú tại tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang bỏ trốn.

Ngoài ra còn có Nguyễn Văn N, sinh năm 1984; Lê Văn K, sinh năm 1982; Thân Văn Đ1, sinh năm 1990 cùng ở tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L và Đào Xuân Đ2, sinh năm 1987 ở tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L có mặt khi bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền 7.180.000 đồng thu trên chiếu bạc; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân một mặt màu đỏ; 01 bàn nhựa màu vàng; 04 ghế nhựa màu vàng.

Kiểm tra thu giữ trên người các đối tượng gồm:

Nguyễn Văn Đ 01 (một) ví da màu đen bên trong có số tiền 6.350.000 đồng; số tiền 280.000 đồng tại túi quần bên trái; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max số IMEI1 353922109578979 và 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, biển kiểm soát 73B1- 032.64, số khung 531787, số máy 531842.

Nguyễn Văn M 01 (một) ví da màu nâu bên trong có số tiền 3.700.000 đồng; số tiền 300.000 đồng trong túi quần bên phải; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max số IMEI 355597828588711 và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, biển kiểm soát 98N4- 9534, số khung 071383, số máy 2571389.

Nguyễn Văn N số tiền 7.535.000 đồng và 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo Y53S, số IMEI 1 860420059900471, IMEI 2 860420059900463.

Đào Xuân Đ2 số tiền 3.010.000 đồng và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím, số IMEI 1 358457886845833, IMEI 2 358457885871186.

Lê Văn K số tiền 260.000 đồng và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen, số IMEI 356773088365871.

Thân Văn Đ1 số tiền 455.000 đồng và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen, số IMEI 1 357275091102738, IMEI 2 357275090922797. (BL 52-55)

Ngày 18/12/2023, T2 đến Công an huyện L đầu thú. Ngày 30/01/2024, Nguyễn Văn Đ giao nộp 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 003892 mang tên Nguyễn Thị H1, biển số đăng ký 73B1- 032.64. Ngày 30/01/2024, Nguyễn Văn M giao nộp 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số 001804, mang tên Vũ Thị H2, biển số đăng ký 98N4- 9534 để phục vụ công tác điều tra (BL 160-161; 74; 107).

Tại Cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận như sau: Nguyễn Văn Đ mở quán bán nước lấy biển hiệu Thành Đạt ở tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 16/12/2023, Nguyễn Văn Đ đang ở quán thì có Nguyễn Văn M, Nguyễn Tuấn A, Thân Văn T2, đến quán. Tại đây, Đ, M, A và T2 rủ nhau đánh bạc, hình thức đánh sâm sát phạt nhau bằng tiền. Đ đi lấy bộ bài tú lơ khơ 52 quân để trong tủ bán hàng xuống để mọi người cùng đánh bạc.

Các đối tượng quy ước cánh đánh và việc sát phạt tiền, cụ thể: Người chia bài lấy bộ bài Tú lơ khơ gồm 52 quân, chia lần lượt cho những người chơi mỗi người 10 (mười) quân bài. Số bài còn lại sau khi chia cho 5 người được đặt úp xuống chiếu. Sau khi chia bài xong, từng người sẽ lên bài và bắt đầu chơi. Khi lên bài, bài ai có các quân bài tạo thành dây (như 4,5,6,7..), bộ B (như KKK, QQQ...), bộ T3 (như 9999, 8888...) không cần đồng chất mà không thừa quân bài nào thì người chơi được bài “Sâm” và hạ bài, những người chơi còn lại phải trả cho người có ván bài “Sâm” số tiền là 200.000 đồng. Trường hợp người chơi đều có bài “Sâm” thì thứ tự bài “Sâm” lớn hơn và được thu tiền của những người còn lại tính từ phải qua trái bắt đầu từ người được đánh bài. Nếu sau khi những người chơi lên bài không ai có bài “Sâm” thì người chia bài sẽ được đánh trước một quân bài, đôi, dây, bộ ba hay bộ tứ bất kỳ, sau đó những người chơi khác sẽ lần lượt đỡ (chặt) bài theo thứ tự từ phải qua trái (quân bài to bắt quân bài bé không cần đồng chất), trong đánh bài “Sâm” quân 2 là quân to nhất, quân 3 là quân bé nhất. Cứ đánh như vậy ai hết bài trước sẽ thắng những người chơi còn lại phải trả tiền cho người thắng tính theo số lá bài còn lại trên tay người chơi, mỗi lá bài là 20.000 đồng/1 lá bài, người chơi không đánh được quân bài nào mất 150.000 đồng.

Khi Đ, M, A và T2 đánh bạc được khoảng 10 phút thì có Thân Văn Đ1, sinh năm 1990 và Nguyễn Văn N, sinh năm 1984 đều trú tại tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L đến quán uống nước. Đến khoảng 16 giờ thì có Đào Xuân Đ2, sinh năm 1978 trú tại tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L và Lê Văn K, sinh năm 1982 trú tại tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L đến uống nước. Lúc sau T2 cho Đào Xuân Đ2 200.000 đồng đánh chất rô với bài của Nguyễn Tuấn A (tiền T2 vẫn cầm). Đào Xuân Đ2 đánh chất rô 02 ván với Anh thì một ván thắng và một ván thua rồi Đ2 ra bàn ngồi uống nước(mục đích đánh chất rô là để nếu thắng thì để trả tiền nước). Đến 16 giờ 20 phút cùng ngày, khi Đ2, M, A và T2 đang đánh bạc thì bị Công an huyện L phối hợp với C thị trấn Đ, huyện L kiểm tra bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Về số tiền mang theo và sử dụng vào mục đích đánh bạc các bị cáo khai nhận như sau:

- Nguyễn Văn Đ khai trước khi đánh bạc Đ có số tiền là 10.150.000 đồng, Đ bỏ ra số tiền 3.800.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt Đ đang thua bạc còn lại số tiền 280.000 đồng Đ đút vào túi quần đã bị thu giữ. Số tiền 6.350.000 đồng Đ để trong ví Đ không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

- Thân Văn T2 khai trước khi đánh bạc có số tiền 2.200.000 đồng sử dụng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc cho Đào Xuân Đ2 ngồi ngoài 200.000 đồng (02 lần) để đánh chất rô. Khi bắt quả tang tiền được thua để trên mặt bàn, lợi dụng sơ hở T2 bỏ trốn.

- Nguyễn Tuấn A khai trước khi đánh bạc có số tiền 1.260.000 đồng dùng để đánh bạc. Khi bị bắt tiền được thua để trên mặt bàn đã bị thu giữ.

- Nguyễn Văn M khai trước khi đánh bạc M có số tiền 4.200.000 đồng, M bỏ ra số tiền 500.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt M đang thua bạc, còn lại số tiền 300.000 đồng M đút vào trong túi quần đã bị thu giữ. Số tiền 3.700.000 đồng M để trong ví M không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Tổng số tiền thu tại chiếu bạc và số tiền các đối tượng khai nhận dùng vào việc đánh bạc ngày là 7.760.000 đồng.

Đối với Đào Xuân Đ2 được T2 cho 200.000 đồng dùng đánh bạc (2 lần mỗi lần 100.000 đồng), quá trình điều tra xác định Đ2 chưa có tiền án, tiền sự. Số tiền dùng đánh bạc chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” nên Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với Nguyễn Văn N, Lê Văn K, Thân Văn Đ1 có mặt khi bắt quả tang, quá trình điều tra xác định N, K, Đ1 không tham gia đánh bạc nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 15/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã quyết định căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ: 08 (tám) tháng tù về tội Đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ bị cáo từ ngày16/12/2023 đến ngày 19/12/2023, tổng số 03 ngày (ba ngày). Phạt tiền bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo khác, giải quyết vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo.

Án xử xong, ngày 25/4/2024, bị cáo Nguyễn Văn Đ kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn Đ giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo. Bị cáo trình bày án sơ thẩm xử bị cáo là đúng người, đúng tội. Bị cáo xin được hưởng án treo lý do bị cáo đã nhận thức được sai lầm, ăn năn hối cải, bị cáo xuất trình biên lai nộp án phí hình sự sơ thẩm và giấy chứng nhận có thời gian 03 năm 03 tháng phục vụ trong quân đội, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá hành vi phạm tội cùng nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát ý kiến tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, xuất trình biên lai nộp án phí hình sự sơ thẩm và giấy chứng nhận có thời gian 03 năm 03 tháng phục vụ trong quân đội là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Căn cứ vào mức độ, tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, sửa án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: đơn kháng cáo của bị cáo Đ nộp trong thời hạn kháng cáo và gửi đến Tòa án nhân dân huyện Lục Nam theo đúng quy định tại Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo HĐXX thấy, qua xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đủ cơ sở xác định: hồi 16 giờ 20 ngày 16/12/2023, tại quán N1 ở tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L các đối tượng Nguyễn Văn Đ, Thân Văn T2, Nguyễn Văn M và Nguyễn Tuấn A đang có hành vi đánh bạc, hình thức đánh sâm, sát phạt nhau bằng tiền bằng bộ tài tú lơ khơ 52 quân thì bị Công an huyện L cùng Công an thị trấn Đ, huyện L kiểm tra bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Tổng số tiền thu tại chiếu bạc và số tiền các đối tượng khai dùng vào việc đánh bạc là 7.760.000 đồng. Bị cáo là người có đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật song vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Đ và các bị cáo khác đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS. Án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 8 tháng tù về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không oan.

[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo HĐXX thấy: sau khi Tòa án sơ thẩm xét xử, bị cáo đã có ý thức nộp án phí sơ thẩm và tiền phạt với số tiền 10.200.000 đồng thể hiện sự ăn năn, hối cải của bị cáo, tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình giấy Biên lai nộp số tiền trên và xuất trình giấy xác nhận có đóng góp 2.000.000 đồng ủng hộ các gia đình chính sách ngày 27/7/2024 là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm. Xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nộp tiền phạt và án phí sau khi bị xét xử sơ thẩm, ủng hộ gia đình chính sách là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 BLHS, phù hợp với hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo là có căn cứ chấp nhận.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo. Xử: Sửa Bản án sơ thẩm.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự: xử phạt Nguyễn Văn Đ 08 (tám) tháng tù về tội "Đánh bạc", nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho UBND thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước, xác nhận bị cáo đã nộp đủ 10.000.000 đồng tiền phạt trên theo Biên lai thu số 0000744 ngày 14/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự;

  2. Án phí: căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Nguyễn Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKS tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - CA-VKS-TA-CCTHADS sơ thẩm;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/HS-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về đánh bạc

  • Số bản án: 139/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ĐÁNH BẠC
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger