Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA LÂM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số139/2024/HSST

Ngày 30/7/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM. THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cồ Khắc Đam

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Văn Thoại

2. Ông Vũ Minh Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Đình Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Thế, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Phòng xét xử trực tuyến- trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xét xử trực tuyến, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 135/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức H, sinh năm 2003 tại Bắc Giang; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: TDP H, T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Nguyễn Đức P; Họ tên mẹ: Ngô Bích V; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú và tạm giam ngày 11/5/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G, thành phố Hà Nội.

(Có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại: Anh Nguyễn Trung H1, Sinh năm 1997

Nơi cư trú: Tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội.

(Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Huy T, Sinh năm 1997

Nơi cư trú: T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/5/2024, Công an thị trấn T – huyện G, Hà Nội nhận được đơn trình báo của anh Nguyễn Trung H1, sinh năm: 1997, HKTT: Tổ A, phường Đ, H, Hà Nội về việc ngày 24/4/2024, anh H1 cho Nguyễn Đức H thuê thiết bị máy DJ-RX2 bằng hình thức hợp đồng với giá 800.000 đồng/1 ngày từ ngày 24/4/2024 đến ngày 25/4/2024. Sau khi thuê thiết bị, H đã chiếm đoạt máy DJ-RX2 của anh H1. Hồi 17 giờ ngày 10/5/2024, Nguyễn Đức H đã đến Công an thị trấn T - huyện G đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Thu giữ của Nguyễn Đức H: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 ProMax màu xanh, IMEI1: 356717111284724, IMEI2: 35671711634043, đã qua sử dụng.

Thu giữ của Nguyễn Trung H1: 01 bản photo hợp đồng thuê dịch vụ âm thanh và nhạc cụ; 01 bản photo CCCD mang tên Nguyễn Đức H; 01 USB màu đen.

Thu giữ của Nguyễn Huy T, sinh năm: 1997, trú tại: T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang: 01 máy DJ nhãn hiệu PIONEER màu đen; 01 bao da màu đen, cũ đã qua sử dụng; 01 giấy mua bán do Nguyễn Đức H viết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 96/KL-HĐĐGTS ngày 16/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G, kết luận: 01 thiết bị DJ PIONEER cùng 01 bao da màu đen mua cũ tháng 11/2023, đã qua sử dụng có giá trị: 36.000.000 đồng. Trong đó: Bao da: 1.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Đức H khai nhận: Ngày 24/4/2024, do thiếu tiền tiêu xài, Nguyễn Đức H nảy sinh ý định dùng thủ đoạn thuê thiết bị DJ của người khác sau đó sẽ chiếm đoạt bán lấy tiền. Để thực hiện ý định trên, H lên trên mạng xã hội facebook tìm kiếm thì thấy anh Nguyễn Trung H1 có cung cấp dịch vụ cho thuê thiết bị DJ. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H liên hệ với anh H1 để đặt thuê 01 thiết bị DJ từ ngày 24/4/2024 đến ngày 25/4/2024 với giá 800.000 đồng. Khoảng 18 giờ, anh H1 mang thiết bị DJ-RX2 màu đen đến sảnh tòa nhà S1.12 KĐT V, thị trấn T, G, Hà Nội để giao cho H và ký kết hợp đồng thuê, quay lại video lúc bàn giao giữa hai bên. Sau khi thuê được thiết bị DJ, H nhắn tin qua ứng dụng Messenger facebook với Trần Văn Đ, sinh năm: 2004, trú tại: thôn N, T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang để hỏi Đ có biết người nào muốn mua thiết bị DJ không thì Đ giới thiệu anh Nguyễn Huy T đang có nhu cầu mua thiết bị DJ cho H. Sau đó Đ lập nhóm chat trên facebook giữa H, anh T và Đ để thỏa thuận về việc mua bán thiết bị DJ. Sau khi H và anh T thỏa thuận giá bán thiết bị DJ là 25.000.000 đồng thì H đi xe taxi từ Hà Nội về Bắc Giang để giao thiết bị DJ cho anh T. Quá trình mua bán, H trực tiếp viết giấy mua bán và anh T đưa cho H số tiền 25.000.000 đồng. Sau đó H tắt điện thoại di động để anh H1 không liên lạc được và sử dụng tiêu xài cá nhân hết số tiền 25.000.000 đồng. Đến ngày 10/5/2024, Nguyễn Đức H đã đến Công an thị trấn T, G, Hà Nội đầu thú. Lời khai nhận của bị can phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Đối với anh Nguyễn Huy T, Trần Văn Đ không biết thiết bị máy DJ là tài sản do H phạm tội mà có. Do vậy, Cơ quan CSĐT – Công an huyện G không có căn cứ xử lý.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 ProMax màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Đức H là điện thoại bị can dùng liên lạc với anh Nguyễn Trung H1 để thực hiện hành vi lừa đảo.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 27/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã ra quyết định xử lý vật chứng trả 01 thiết bị DJ, đã qua sử dụng cho anh Nguyễn Trung H1. Anh H1 đã nhận tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Đối với anh Nguyễn Huy T là người mua thiết bị DJ của H với giá 25.000.000 đồng nhưng không biết đây là tài sản do H lừa đảo mà có. Anh T yêu cầu H phải trả lại cho anh số tiền 25.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 134/CT-VKSGL ngày 04 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố bị cáo Nguyễn Đức H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Đức H khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận đã có hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và xác nhận hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo với nội dung Cáo trạng truy tố.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đề nghị xử phạt Nguyễn Đức H từ 16 tháng đến 20 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự nên đề nghị không xem xét.

Buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải bồi thường cho Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Huy T số tiền 25.000.000 đồng(Hai mươi lăm triệu đồng).

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cho tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với chiếc điện thoại Iphone 12 ProMax màu xanh thu giữ của bị cáo, xác định liên quan đến hành vi phạm tội.

Trong phần Tranh luận bị cáo không có ý kiến gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, khi nói lời sau cùng bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ xác định: Khoảng 18 giờ ngày 24/4/2024, tại sảnh tòa nhà S KĐT V, thị trấn T, G, Hà Nội, bị can Nguyễn Đức H đã có hành vi gian dối, thuê tài sản sau đó chiếm đoạt đó. Tài sản bị cáo chiếm đoạt là 01 thiết bị DJ PIONEER cùng 01 bao da màu đen (dùng để đựng thiết bị DJ) có giá trị: 36.000.000 đồng của anh Nguyễn Trung H1 để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Đức H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Điều 174 Bộ luật hình sự quy định:

...“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...

Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.

[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho bị cáo và bị cáo đã chiếm đoạt tài sản. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, do vậy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo đã đầu thú khi hành vi phạm tội bị phát giác nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm I, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Đức H có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, số tiền bị cáo chiếm đoạt rất lớn nên cần áp dụng hình phạt tù giam tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để giáo dục cũng như phòng ngừa chung.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Đối với bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự nên HĐXX không xem xét.
  • - Đối với yêu cầu của Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Huy T đề nghị bị cáo phải trả số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) đã nhận do bán tài sản do phạm tội mà có là hợp pháp và có căn cứ nên buộc bị cáo trả cho anh T số tiền trên theo quy định của pháp luật.

[8]. Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với chiếc điện thoại Iphone 12 ProMax màu xanh thu giữ của bị cáo, xác định liên quan đến hành vi phạm tội nên HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cho tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01 USB màu đen thu giữ của anh Nguyễn Trung H1, xác định liên quan đến hành vi phạm tội nên cho tịch thu và lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 mục I, khoản 1 mục II Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[10]. Bị cáo, Bị hại và Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự; Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức H 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2024.
  2. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải trả cho anh Nguyễn Huy T số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
  4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về xử lý vật chứng: Cho tịch thu, sung công 01(Một) chiếc điện thoại Iphone 12 ProMax màu xanh thu giữ của bị cáo theo Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội ngày 23 tháng 7 năm 2024).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn xin thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành xong các khoản tiền thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

[6]. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Gia Lâm;
  • - Công an huyện Gia Lâm;
  • - Nhà tạm giữ Công An huyện Gia Lâm, Hà Nội;
  • - Thi hành án dân sự H. Gia Lâm;
  • - Sở tư pháp Hà Nội;
  • - Những người tham gia tố tụng;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cồ Khắc Đam

- Lưu: HS; THS.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/HSST ngày 30/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 139/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo H lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger