Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 139/2024/HS-ST

Ngày 29-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Cà Văn Thanh
  2. Ông Hoàng Ngọc Hùng

- Thư ký phiên toà:

Ông Đào Ngọc Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 141/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Phạm Xuân K, sinh ngày: 28 tháng 8 năm 1989 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ C, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Phạm Văn T, sinh năm 1961 và con bà Trần Thị T1, sinh năm 1964. Bị cáo có vợ là Lò Thị Thảo N, sinh năm 1995, bị cáo có con là Phạm Thảo N1, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 27/5/2010 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 06 tháng tù về tội buôn bán hàng cấm; Ngày 24/3/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Phạm Xuân H, sinh ngày: 01 tháng 01 năm 1963 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Phạm Ngọc T2, sinh năm 1915 (đã chết) và con bà Lưu Thị M, sinh năm 1932 (đã chết). Bị cáo có vợ là Lê Viết T3, sinh năm 1965, có 02 con con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 12/9/1984 bị Toà án nhân dân Thị xã Sơn La xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản riêng của công dân (đã được xoá án tích); Ngày 25/01/1999 bị Toà án nhân dân Thị xã Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (đã được xoá án tích); Ngày 29/3/2007 bị Toà án nhân dân Thị xã Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội trộm Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã được xoá án tích);

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Phạm Văn T, sinh năm 1961. Địa chỉ: Tổ C, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  • - Bà Lò Thị Thảo N, sinh năm 1995 Địa chỉ: Tổ C, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  • - Bà Lê Viết T3, sinh năm 1965, trú tai: Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 04/5/2024, tổ công tác Công an phường Q, thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực tổ A, phường Q, thành phố S đã phát hiện Phạm Xuân K và Phạm Xuân H đang có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm về chất ma tuý. Quá trình kiểm tra, K tự giác giao nộp số tiền 400.000 VNĐ (gồm 04 tờ tiền mệnh giá 100.000 VNĐ), khai nhận là số tiền vừa bán ma túy cho H mà có; H tự giác đưa từ trong lòng bàn tay trái ra giao nộp 02 gói nilon màu trắng được quấn bên ngoài bằng mảnh giấy màu trắng, mở 02 gói nilon màu trắng ra bên trong là cục bột màu trắng (H khai nhận là ma túy H1 vừa mua được của K với số tiền 400.000 VNĐ nhằm mục đích để sử dụng).

Vật chứng thu giữ gồm: 02 gói nilon màu trắng được quấn bên ngoài bằng mảnh giấy màu trắng, mở 02 mảnh giấy màu trắng ra bên trong là chất cục bột màu trắng; 04 tờ tiền polime có mệnh giá 100.000 VNĐ (Một trăm nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh, số máy MWFR2LL/A, số seri G6TZV8VYN70G, số IMEI có 05 số cuối 13801, bên trong có 01 sim điện thoại Viettel số thuê bao 0965.568.xxx, trên sim có 04 số cuối là 2332, đã qua sử dụng (thu giữ của Phạm Xuân K); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy J3 Pro màu vàng, số kiểu máy SN-J330G/DS, số seri R58JC1M70QT, số IMEI có 05 số cuối 05904, bên trong có 01 sim điện thoại Viettel số thuê bao 0382.506.xxx, trên sim có 04 số cuối là 0972, đã qua sử dụng (thu giữ của Phạm Xuân H); 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 26K7 - 5316, số máy 294088, số khung 294031, đã qua sử dụng (Kiểm tra xe không phát hiện, thu giữ đồ vật gì liên quan); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 26F1 - 6810, số máy 8120968, số khung 8120968, đã qua sử dụng (Kiểm tra xe không phát hiện, thu giữ đồ vật gì liên quan).

Ngày 04/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S tiến hành bóc mở niêm phong, tách bì và cân tịnh xác định khối lượng vật chứng. Kết quả: Số cục bột màu trắng trong gói nilon màu trắng thứ nhất có khối lượng là 0,19 gam; lấy 0,03 gam làm mẫu giám định, ký hiệu là Hl. Còn lại 0,16 gam lưu kho, ký hiệu Kl. Số cục bột màu trắng trong gói nilon màu trắng thứ hai có khối lượng là 0,22 gam; lấy 0,03 gam làm mẫu giám định, ký hiệu là H2. Còn lại 0,19 gam, luu kho ký hiệu K2. Tổng khối lượng chất cục bột màu trắng trong 02 gói nilon màu trắng nêu trên là 0,41 gam.

Kết luận giám định số 1029/KL - KTHS ngày 07/5/2024 của Phòng K3 - Công an tỉnh S kết luận "Mẫu ký hiệu HI, H2 gửi giám định đều là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục khoa học là: Diacetylmorphine". Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Ngày 04/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã ra trưng cầu giám định đối với số tiền 400.000 VNĐ thu giữ của Phạm Xuân K. Tại kết luận giám định số 1039/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của phòng K3 Công an tỉnh S kết luận "Số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật".

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận: Khoảng 07 giờ 00 ngày 05/4/2024, Phạm Xuân K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát 26F1-6810 đi từ nhà ở tổ C, phường T, thành phố S theo hướng Quốc lộ F lên huyện T để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến địa phận xã C, huyện T thì K gặp một người nam giới không quen biết (K không biết tên, tuổi, địa chỉ người nam giới này), có biểu hiện giống người nghiện đang đứng ở ven đường. K đi đến gần và hỏi mua ma túy của người nam giới này. Qua trao đổi, K mua được của người nam giới này 02 gói nilon màu trắng được quấn bên ngoài bằng mảnh giấy màu trắng, bên trong 02 gói nilon có chứa cục bột màu trắng là Heroine với số tiền 350.000 VNĐ. Sau khi mua được ma túy, K điều khiển xe mô tô quay về hướng thành phố S để đi về nhà. Khi đang trên đường đi về thì K nhận được cuộc gọi từ số thuê bao 0382.506.378 của Phạm Xuân H, luu trong danh bạ là “Chú Hồng Cánh C” (K quen biết H do vào năm 2009 cùng cai nghiện tại Trung tâm cai nghiện tỉnh Sơn La. Đầu năm 2024 K gặp lại H và lấy số điện thoại của nhau). H hỏi K có ma túy bán không? K trả lời là lấy được, H bảo lấy hộ 400.000 VNĐ, K đồng ý và hẹn H ra khu vực cây xăng B thuộc tổ A, phường Q, thành phố S để lấy ma túy. Một lúc sau K điều khiển xe đến nơi hẹn và chờ khoảng 05 phút thì thấy Hồng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 26K7-5316 đến. H đưa cho K số tiền 400.000 VNĐ. Nhận tiền xong, K đưa cho H 02 gói nilon màu trắng được quấn bên ngoài bằng mảnh giấy trắng, bên trong là ma túy Heroine mà K mua được người nam giới không quen biết trước đó. Khi vừa trao đổi, mua bán ma túy xong thì K và H bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ các vật chứng liên quan.

Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ trong vụ án, Phạm Xuân K khai mua của một người nam giới không quen biết, khoảng 40-45 tuổi, dáng người cao gầy, tóc dài, cao khoảng 1m70 tại khu vực xã C, huyện T, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của các bị cáo không còn chứng cứ nào khác, do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố S không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án, buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma tuý thu giữ trong vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 267/CT-VKSTP ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Phạm Xuân K về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và truy tố bị cáo Phạm Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Xuân K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Phạm Xuân K từ 30 đến 36 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo Phạm Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Phạm Xuân H từ 16 đến 20 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ:

01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 02 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh giấy màu trắng; Mẫu lưu K1 =0,16 gam; K2 = 0,19 gam; 01 sim điện thoại Viettel số thuê bao 0382.506.xxx, trên sim có 04 số cuối là 0972, đã qua sử dụng, 01 sim điện thoại Viettel số thuê bao 0965.568.xxx, trên sim có 04 số cuối là 2332, đã qua sử dụng.

Tịch thu xung vào Ngân sách Nhà nước:

400.000 đồng (gồm 04 tờ tiền mệnh giá 100.000 VNĐ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy J3 Pro màu vàng, số kiểu máy SN-J330G/DS, số seri R58JC1M70QT, số IMEI có 05 số cuối 05904

Tuyên trả lại:

01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh, số máy MWFR2LL/A, số seri G6TZV8VYN70G, số IMEI có 05 số cuối 13801, bên trong có 01 sim điện thoại Viettel số thuê bao 0965.568.xxx, trên sim có 04 số cuối là 2332, đã qua sử dụng cho chị Lò Thị Thảo N.

01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 26K7 - 5316, số máy 294088, số khung 294031, đã qua sử dụng cho bà Lê Viết T3.

01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 26F1 - 6810, số máy 8120968, số khung 8120968, đã qua sử dụng cho ông Phạm Văn T

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn TLê Viết T3 đề nghị được nhận lại xe máy, bà Lò Thị Thảo N đề nghị được nhận lại điện thoại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 04/5/2024, Phạm Xuân K đã có hành vi bán cho Phạm Xuân H 0,41 gam Heroine với mục đích kiếm lợi nhuận, Phạm Xuân H cất giữ trái phép 0,41 gam Heroine với mục đích để sử dụng, hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

  • - Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 11 giờ 00 phút ngày 04/5/2024 tại Tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Phạm Xuân K, Phạm Xuân H cùng vật chứng thu giữ là 0,41 gam, kết luận giám định là Heroine.
  • - Lời khai nhận tội của các bị cáo.
  • - Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 1029/KL - KTHS ngày 07/5/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh S; Kết luận giám định số 1039/KL-KTHS ngày 09/5/2024 của phòng K3 Công an tỉnh S.
  • - Lời khai ông Trần Minh K1 trú tại tổ G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang.

Từ các căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Xuân K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự. bị cáo Phạm Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất mức độ của hành vi:

Bị cáo Phạm Xuân K phạm tội với tổng khối lượng 0,41 gam, loại Heroine, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, cần có hình phạt tương xứng nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Bị cáo Phạm Xuân H phạm tội với tổng khối lượng 0,41 gam, loại Heroine, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, cần có hình phạt tương xứng nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, các bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Vật chứng của vụ án: Đối với số ma tuý còn lại sau khi trừ mẫu giám định là vật cấm lưu hành và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 02 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh giấy màu trắng; 01 sim điện thoại Viettel số thuê bao 0382.506.xxx, trên sim có 04 số cuối là 0972, 01 sim điện thoại Viettel số thuê bao 0965.568.xxx, trên sim có 04 số cuối là 2332, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 400.000 đồng (gồm 04 tờ tiền mệnh giá 100.000 VNĐ) thu giữ của K là tiền do phạm tội mà có; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy J3 Pro màu vàng, số kiểu máy SN-J330G/DS, số seri R58JC1M70QT, số IMEI có 05 số cuối 05904 của H là phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu xung vào Ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh, số máy MWFR2LL/A, số seri G6TZV8VYN70G, số IMEI có 05 số cuối 13801, bên trong có 01 sim điện thoại Viettel số thuê bao 0965.568.xxx, trên sim có 04 số cuối là 2332, đã qua sử dụng. Việc K sử dụng điện thoại thực hiện hành vi phạm tội, chị N không biết, xét đề nghị được nhận lại chiếc xe trên của chị N là có căn cứ.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Dream, BKS 26F1-6810, đăng ký xe mang tên Nguyễn Thúy H2, quá trình điều tra xác định chị h đã bán lại chiếc xe mô tô trên cho ông Phạm Văn T, là bố đẻ của bị cáo. Từ đầu tháng 5 năm 2024, do không có phương tiện đi làm nên ông T đã cho K mượn chiếc xe trên. Việc K sử dụng xe thực hiện hành vi phạm tội, ông T không biết, xét đề nghị được nhận lại chiếc xe của ông T là có căn cứ.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius BKS 26K7-5316 thu gữ của bị cáo H, đăng ký xe mang tên Phạm Duy K2, con trai của bị cáo. Hiện nay K2 đang xuất khẩu lao động nên giao xe cho bà Lê Viết T3 (vợ của bị cáo). Việc H sử dụng xe thực hiện hành vi phạm tội bà T3 không biết, xét đề nghị được nhận lại chiếc xe trên của bà T3 là có căn cứ.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Xuân K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Xuân K 28 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2024.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Xuân H 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 02 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh giấy màu trắng; Mẫu lưu K1 =0,16 gam; K2 = 0,19 gam; 01 sim điện thoại Viettel số thuê bao 0382.506.xxx, trên sim có 04 số cuối là 0972, đã qua sử dụng, 01 sim điện thoại Viettel số thuê bao 0965.568.xxx, trên sim có 04 số cuối là 2332, đã qua sử dụng.

Tịch thu xung vào Ngân sách Nhà nước: 400.000 đồng của Phạm Xuân K gồm 04 tờ tiền mệnh giá 100.000 VNĐ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy J3 Pro màu vàng, số kiểu máy SN-J330G/DS, số seri R58JC1M70QT, số IMEI có 05 số cuối 05904 của Phạm Xuân H.

Trả lại chị Lò Thị Thảo N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh, số máy MWFR2LL/A, số seri G6TZV8VYN70G, số IMEI có 05 số cuối 13801.

Trả lại bà Lê Viết T3 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 26K7 - 5316, số máy 294088, số khung 294031, đã qua sử dụng.

Trả lại ông Phạm Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 26F1 - 6810, số máy 8120968, số khung 8120968, đã qua sử dụng.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/8/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Sơn La.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Phạm Xuân KPhạm Xuân H phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/8/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND thành phố Sơn La;
  • - Công an thành phố Sơn La;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố Sơn La;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - THAHS;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Hoàng Thị Bích Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 139/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Xuân Khánh - Phạm Xuân Hồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger