|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 139/2024/HS-ST
Ngày 29-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Thanh Hiên
Ông Nguyễn Văn Hạnh
- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Việt Anh, là Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thư, Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 6 năm 2024 Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 135/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 565/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 592/TB-TA ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Hoàng Công P, sinh ngày 01 tháng 6 năm 1982 tại Thái Bình. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nơi ở hiện nay: Không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Mai S (đã chết) và bà Phạm Thị L; có vợ là Nguyễn Thị N (đã ly hôn), có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 20/12/2023, tạm giam ngày 29/12/2023; có mặt.
- Đinh Văn N1, sinh ngày 03 tháng 4 năm 1984 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn F, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn H (đã chết) và bà Đinh Thị C; có vợ là Trần Thị Thu T, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 20/12/2023, tạm giam ngày 29/12/2023; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 20/12/2023, Công an phường C làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa nhà số D T, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng phát hiện Đinh Văn N1 đang lên xe mô tô biển kiểm soát 37N4-5916 có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong túi quần phía sau, bên trái N1 đang mặc có 01 gói nilon bên trong có một gói giấy in hai mặt có nhiều màu sắc chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác thu giữ gói nilon nghi chứa ma túy và đưa N1 về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ của Nhỏ 01 xe mô tô biển kiểm soát 37N4-5916, 01 điện thoại OPPO màu xanh và số tiền 145.000 đồng.
Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 20/12/2023, tổ công tác khác của Công an phường C làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa nhà số B T, C, quận L, thành phố Hải Phòng phát hiện Hoàng Công P đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong túi áo khoác phía trước bên trái của P có 03 gói nilon bên trong mỗi gói có một gói giấy in hai mặt có nhiều màu sắc chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác đã thu giữ 03 gói nilon nghi là ma túy, đưa P về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, ngoài ra, còn thu giữ của P số tiền 1.200.000 đồng, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 dao lam, 10 mảnh giấy bạc màu trắng kích thước 04x04cm, 01 điện thoại Nokia màu đen.
Kết luận giám định số 1059/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của N1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,20 gam, loại Heroine.
Kết luận giám định số 1060/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của P gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,28 gam, loại Heroine.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiến hành cho P và N1 nhận dạng qua bản ảnh. Kết quả, P nhận dạng được N1 là người mua ma túy của P; Nhỏ nhận dạng được P là người bán ma túy cho N1. P xác nhận gói giấy chứa ma túy thu giữ của N1 chính là gói giấy P đã dùng để gói ma túy bán cho N1.
Đinh Văn N1 khai nhận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 20/12/2023 Nhỏ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37N4-5916 đi đến khu vực đường T để mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại khu vực ngã ba bệnh viện V (H - T), N1 đã gặp Hoàng Công P (do đã có lần mua ma túy của P nên N1 biết P). P nhìn thấy N1 thì gật đầu rồi đi ra một góc khuất trên đường tàu Trần Nguyên H1 hướng về Cầu Q. N1 đi theo P và đưa cho P 300.000 đồng. P nhận tiền và lấy từ túi áo sơ mi trước ngực 01 gói nilon màu trắng bên trong là gói giấy in hai mặt có nhiều màu sắc. Nhỏ hiểu bên trong gói giấy là Heroine nên cất gói ma túy vào túi quần phía sau bên trái. Khi N1 quay lại khu vực đang dựng xe mô tô thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang như trên. Ngoài ra, N1 còn khai: Trước ngày 20/12/2023 đã 03 lần mua ma
túy của P đều vào khoảng thời gian từ 08-09 giờ tại khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn về để sử dụng cho bản thân: Lần thứ nhất vào khoảng ngày 09/12/2023, N1 mua 200.000 đồng; lần thứ hai vào khoảng ngày 13/12/2023, Nhỏ mua 300.000 đồng; lần thứ ba vào khoảng ngày 17/12/2023 N1 mua 300.000 đồng. Tổng số tiền N1 mua của P 03 lần là 800.000 đồng.
Hoàng Công P khai phù hợp với lời khai của Đinh Văn N1 về việc đã bán ma túy cho Nhỏ ngày 20/12/2023 và 03 lần trước đó. Nguồn gốc số ma túy P có để bán cho N1 là do nhiều lần mua của một người phụ nữ khoảng 60 tuổi và một bé gái khoảng 13 tuổi ở nhà số A N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng. P mua ma túy về vừa để sử dụng và để bán lại cho các người nghiện khác để kiếm lời. P mới chỉ bán được cho một mình Nhỏ, chưa bán cho ai khác. Khoảng 21 giờ ngày 19/12/2023, P đã mua của người phụ nữ và bé gái trên 400.000 đồng Heroine, sau đó chia nhỏ số ma túy mua được ra làm 04 phần, nhặt mảnh giấy có nhiều màu sắc gói thành 04 gói rồi bọc nilon bên ngoài. Khoảng 09 giờ ngày 20/12/2023, P đã bán được 01 gói ma túy cho N1, còn 03 gói P để vào túi áo khoác đằng trước bên trái nhằm mục đích để bán thì bị lực lượng Công an bắt quả tang như trên. Số tiền 1.200.000 đồng P bị thu giữ trong đó có 300.000 đồng tiền bán ma túy cho N1, số tiền còn lại là do P lao động mà có.
Tại bản cáo trạng số 145/CT-VKSLC ngày 11 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Hải Phòng truy tố Hoàng Công P về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, truy tố Đinh Văn N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận như nội dung trên và đều khai không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định. Bị cáo P khai số tiền 1.200.000₫ bị cơ quan Công an thu giữ có 300.000đ do bán ma túy cho N1 mà có, số tiền 900.000₫ còn lại do bị cáo lao động mà có, 01 chiếc điện thoại Nokia màu đen bị thu giữ bị cáo không sử dụng vào mục đích mua bán ma túy, số tiền 800.000đ bán ma tuý cho bị cáo N1 vào các ngày 09, 13, 17/12/2023 bị cáo đã ăn tiêu hết. Bị cáo N1 khai số tiền 145.000đ bị cơ quan Công an thu giữ do bị cáo lao động mà có, 01 điện thoại OPPO màu xanh bị thu giữ bị cáo không sử dụng vào mục đích liên lạc để mua ma túy.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hoàng Công P về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đinh Văn N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Công P mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn N1 mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Do các bị cáo không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng; đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 bì giấy theo niêm phong ma túy số 1059MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói của toàn bộ tang vật có chữ ký của những người liên quan; 01 bì giấy theo niêm phong ma túy số 1060MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói của toàn bộ tang vật có chữ ký của những người liên quan; 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 dao lam; 10 mảnh giấy bạc màu trắng kích thước 4x4 cm.
- - Tịch thu sung nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 300.000đ thu giữ của bị cáo Hoàng Công P.
- - Buộc bị cáo Hoàng Công P phải nộp 800.000₫ do bán ma tuý cho bị cáo N1 vào các ngày 09, 13, 17/12/2023 mà có để sung ngân sách Nhà nước.
- - Trả lại bị cáo Hoàng Công P 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen và số tiền 900.000đ. Trả lại bị cáo Đinh Văn N1 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu xanh và số tiền 145.000đ.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 37N4-5916, kết quả điều tra xác định người đứng tên đăng ký xe là ông Phan Công L1 (sinh năm 1971, trú tại: xóm T, xã N, huyện N, Nghệ An). Năm 2023 ông L1 đã bán chiếc xe trên cho chị Trần Thị Thu T, sinh năm 1987; trú tại: thôn F, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng (là vợ của của Đinh Văn N1). Ngày 20/12/2023, chị T cho N1 mượn để sử dụng và không biết N1 sử dụng đi mua ma túy. Tuy nhiên, chị T đã đã làm mất và không xuất trình được giấy đăng ký xe. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã tạm bàn giao xe cho chị Trần Thị Thu T quản lý, tiếp tục làm rõ xử lý sau. Nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.
Đối với việc P khai mua ma túy của một người phụ nữ khoảng 60 tuổi và một bé gái khoảng 13 tuổi ở nhà số A N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng. Ngày 02/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiến hành khám xét khẩn cấp ngôi nhà nêu trên trong vụ án khác theo Quyết định khởi tố vụ án số 16 ngày 12/01/2024 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại thời điểm khám xét, trong nhà có mặt Phạm Thị Bích T1, sinh năm 1966 và Nguyễn Khánh L2, sinh năm 2009, kết quả khám xét có thu giữ 0,13 gam ma túy Heroine và 0,06 gam ma túy Methamphetamine. Tiến hành cho nhận dạng qua bản ảnh, Hoàng Công P nhận dạng và xác nhận Phạm Thị Bích T1 và Nguyễn Khánh L2 là hai người bán ma túy
cho P. Đến nay, hành vi của T1 và L2 được tách ra để tiếp tục xem xét giải quyết trong vụ án khác, N2 không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.
Đối với việc Đinh Văn N1 có hành vi mua ma túy Heroine của Hoàng Công P để sử dụng vào khoảng các ngày 09/12/2023, 13/12/2023, 17/12/2023 có dấu hiệu của việc tàng trữ trái phép chất ma túy nhiều lần, tuy nhiên do Đinh Văn N1 đã sử dụng hết, không thu giữ được ma túy, không xác định được khối lượng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có căn cứ để xem xét xử lý; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý:
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ cho thấy: Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 20/12/2023, Đinh Văn N1 có hành vi cất giữ trái phép 0,2 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang tại khu vực trước cửa nhà số D T, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng; hành vi của bị cáo Đinh Văn N1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý:
Sáng ngày 20/12/2023 tại khu vực trước cửa nhà số B T, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng, Hoàng Công P đã cất giữ trái phép 0,48 gam Heroin nhằm mục đích để bán và đã bán cho Đinh Văn N1 0,2 gam Heroine. Ngoài ra bị cáo N1 và bị cáo P đều khai, P đã bán ma tuý cho N1 vào các ngày 09, 13, 17/12/2023. Nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Công P đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết định khung: Đối với bị cáo P ngoài hành vi bán trái phép chất ma tuý cho bị cáo N1 vào ngày 20/12/2023 thì trước đấy P còn bán Heroine cho Nhỏ 03 lần vào các ngày 09/12/2023, 13/12/2023, 17/12/2023. Nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo N1 đã khai nhận có hành vi mua ma túy Heroin của P để sử dụng vào các ngày 09/12/2023, 13/12/2023, 17/12/2023. Đây là hành vi có dấu hiệu của việc Tàng trữ trái phép chất ma túy nhiều lần, tuy nhiên do N1 đã sử dụng hết, không thu giữ được ma túy, không xác định được khối lượng nên không có căn cứ để xem xét xử lý;
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội.
[5] Các bị cáo biết hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy bị nhà nước nghiêm cấm nhưng vì mục đích vụ lợi (bị cáo P) và để sử dụng cho bản thân vì là đối tượng sử dụng ma tuý từ nhiều năm nay (bị cáo N1) nên các bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; kiểm sát viên tham gia phiên toà có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình là có căn cứ chấp nhận.
- Về hình phạt áp dụng:
[7] Từ những phân tích trên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và buộc các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo, phòng ngừa tội phạm chung.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Các bị cáo đều không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp với thực tế và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà.
- Về xử lý vật chứng:
[9] Đối với 01 bì giấy theo niêm phong ma túy số 1059MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói của toàn bộ tang vật có chữ ký của những người liên quan (thu giữ của bị cáo N1); 01 bì giấy theo niêm phong ma túy số 1060MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói của toàn bộ tang vật có chữ ký của những người liên quan và 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 dao lam; 10 mảnh giấy bạc màu trắng kích thước 4x4 cm (thu giữ của bị cáo P). Xét đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, đối chiếu điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[10] Đối với số tiền 300.000đ trong tổng số tiền 1.200.000đ thu giữ của bị cáo Hoàng Công P. Xét đây là số tiền P bán ma túy cho N1 mà có, đối chiếu điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước. Đối với số tiền 900.000đ tài liệu điều tra thể hiện không liên quan đến hành vi phạm tội, đối chiếu khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại bị cáo P số tiền 900.000đ, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[11] Đối với số tiền 800.000₫ bị cáo P có từ việc bán ma tuý cho bị cáo N1 vào các ngày 09, 13, 17/12/2023, xét là tiền do phạm tội mà có; đối chiếu điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải nộp lại sung ngân sách Nhà nước.
[12] Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen thu giữ của Hoàng Công P; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu xanh và số tiền 145.000đ thu giữ của Đinh Văn N1. Quá trình điều tra, xét hỏi tại phiên tòa xác định đây là tài sản, đồ vật không liên quan đến hành vi phạm tội; đối chiếu khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên cần trả lại cho các bị cáo.
- Về án phí:
[13] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Về quyền kháng cáo:
[14] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự
Tuyên bố bị cáo Hoàng Công P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Xử phạt: Hoàng Công P 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2023.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Đinh Văn N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt: Đinh Văn N1 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2023.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 bì giấy theo niêm phong ma túy số 1059MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói của toàn bộ tang vật có chữ ký của những người liên quan; 01 bì giấy theo niêm phong ma túy số 1060MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói của toàn bộ tang vật có chữ ký của những người liên quan; 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 dao lam; 10 mảnh giấy bạc màu trắng kích thước 4x4 cm.
- - Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 300.000đ thu giữ của bị cáo Hoàng Công P.
- - Buộc bị cáo Hoàng Công P nộp lại 800.000₫ do bán ma tuý mà có để sung ngân sách Nhà nước.
- - Trả lại bị cáo Hoàng Công P 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen và số tiền 900.000đ (chín trăm nghìn đồng) nhưng cần tạm giữ lại số tiền để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại bị cáo Đinh Văn N1 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu xanh và số tiền 145.000đ (một trăm bốn mươi năm nghìn đồng).
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an quận L và Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân; Ủy nhiệm chi ký hiệu: C4-02a/KB, số 39 và số 40.2024/QĐ-CALC(HTTP) ngày 13/6/2024 giữa Công an quận L và Kho bạc Nhà nước quận L).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6; Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo P, N1; mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo P, bị cáo N1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Lộc |
Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 29/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự: mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 139/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Công P - MBMT
