Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA VÌ – TP. HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2024/HS-ST

Ngày 28 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Trọng Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đại Huy và ông Nguyễn Xuân Thuật

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 11 năm 2024. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 123/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Cao C, sinh năm: 1985.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã T, huyện T, Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Hữu D ( đã chết) và bà Vũ Thị T, sinh năm 1963; Vợ: Chị Trần Thị Kim H, sinh năm: 1982; Con: Nguyễn Cao Hải Đ, sinh năm: 2021; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/9/2024 cho đến nay. (Có mặt).

* Bị hại:

Cháu Phạm Gia H1, sinh năm: 2016;

Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội.

Người giám hộ cho cháu H1 là: Ông Trương Thăng L, sinh năm: 1954;

Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện B, Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu H1 là: Bà Đàm Thị H2, Trợ giúp viên pháp lý, C1 nhanh số 10 thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H.

(Ông L, bà H2, Cháu H1, có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Trương Thị Thu L1 có ba người con là cháu Phạm Gia H3, cháu Phạm Gia L2 và cháu Phạm Gia H1. Năm 2017 chồng chị L1 chết thì chị đã đưa 03 con về nhà bố mẹ đẻ là bà T1 và ông L trú tại: Thôn V, xã C, huyện B, Hà Nội nhờ quản lý và chăm sóc. Chị L1 đã đi học tiếng Nhật Bản tại Trung tâm ICC ở huyện Đ, Hà Nội, có tình cảm yêu đương với Nguyễn Cao C. Chị L1 đã nhiều lần đưa C về nhà bố mẹ đẻ ở xã C, B, Hà Nội chơi. Đến tháng 11/2018, chị L1 đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, C vẫn thường xuyên đến nhà bà T1 chơi cùng 03 con của chị L1. Khoảng tháng 9/2019, chị L1 và C đã xảy ra mâu thuẫn tình cảm với nhau nên chị L1 đã cắt mọi liên lạc với C. Do không muốn chia tay với chị L1, khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/9/2019, C đã gọi điện cho ông L để đe dọa (theo lời khai của ông L): “Bác bảo L1 gọi điện về cho cháu trong vòng một tiếng mà không gọi liên hệ được thì bác gọi sẵn cho bác gái chuẩn bị sẵn ba cái quan tài và nhà cháu cũng chuẩn bị sẵn một cái quan tài để cháu với L1 sẽ về chung ở đấy......... cháu đang trên đường lên nhà bác, còn khoảng 12km nữa”.

Khoảng 9 giờ ngày 20/9/2019, C đến nhà bà T1 để chơi nhưng nhà bà T1 không có ai ở nhà. C đi đến trường mầm non để đón cháu H1 và cháu L2. Do không quen biết nên giáo viên của các cháu không cho C đón. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, C đến nhà bà T1 chơi, khoảng 16 giờ C chở bà T1 đi đón cháu H1 và cháu L2 đi học về. Sau đó, bà T1 lấy xe đạp đi mua đồ dùng trong gia đình còn C ở lại chơi với các cháu con chị L1. Một lúc sau, C đã rủ cháu H1 đi cùng mình xuống nhà chị Trương Thị Thu H4 với mục đích nhờ chị H4 gọi điện cho L1 để L1 gọi điện lại cho C. Sau đó, C đã điều khiển xe máy BKS: 33K8 - 1286 (chiếc xe này, C được bà T1 cho mượn làm phương tiện đi lại trước đó) chở theo cháu H1 đi đến nhà chị N. Khoảng 30 phút sau, bà T1 về nhà thì không thấy C và cháu H1 đâu. Bà T1 có hỏi cháu H3 và cháu B thì được H3 và B cho biết “Chú C cho B1 đi rồi, chú bảo chú đưa xuống nhà bác N” (B1 là tên thường gọi của cháu H1 ở nhà). Khoảng 30 phút sau, C có gọi điện thoại và báo cho bà T1 biết là “Con đưa cháu xuống nhà chị N chơi”. Bà T1 bảo C “Ờ tối thì đưa nó về”. Do không biết địa chỉ nhà và không liên lạc được với chị H4 nên C tiếp tục điều khiển xe đến cửa hàng cắt tóc ở số F, Phố H, phường P, thị xã S của chị Vân A để chơi. Tại đây, C và cháu H1 ở chơi và nói chuyện với anh H5 khoảng rồi ra về.

Trên đường về đến vòng xuyến S (đầu cầu V) C đã nảy sinh ý định sẽ giữ cháu H1 không đưa về nhà nữa nhằm đe dọa người nhà chị L1, yêu cầu L1 liên lạc lại với C và phải về nước gặp C. Thực hiện ý định, C đưa cháu H1 đến Trung tâm X là nơi C đang học tiếng Nhật Bản để ngủ qua đêm. Khoảng 22 giờ cùng ngày, không thấy C đưa cháu H1 về nên bà T1 đã gọi điện yêu cầu C đưa cháu H1 về. Theo lời khai của bà T1: Qua điện thoại, C nói: “Bây giờ chỉ có Lan nó mới giải quyết được thôi, con cho nó trong phạm vi 10 ngày nó về đây thì con sẽ cho cu B1 về ngay. Giờ Ba con con đang ở với nhau bà không phải lo”. Bà T1 nói “Sao mày lại làm thế”. C nói “Cứ để L1 về đây con khắc cho cu B1 về ngay”. Bà T1 nghĩ C chỉ đưa cháu H1 đi chơi bình thường nên không báo cho người nhà biết. Đêm ngày 20/9/2019, C đã sử dụng tài khoản messenger có tên “Duyên Nợ” của C nhắn tin vào tài khoản messenger có tên “Hân Phạm” của chị L1 để đe dọa với nội dung: “Nếu những ngày tiếp theo em không gọi điện nói chuyện với anh, anh và H1 sẽ chết”. Tuy nhiên, chị L1 không đọc tin nhắn và cũng không trả lời C. Sáng ngày 21/9/2019, để gây sức ép cho gia đình chị L1, C tắt nguồn chiếc điện thoại lắp sim có số thuê bao 0978 003 669 Cường thường dùng để liên lạc với người thân và bạn bè để cho người nhà chị L1 không liên lạc được, còn chiếc điện thoại C sử dụng để đăng nhập faebook C vẫn mở để chờ chị L1 liên lạc về. Mục đích C tắt nguồn điện thoại là để người thân của chị L1 lo lắng, phải bảo chị L1 liên lạc với C. Sau đó, C bắt xe ô tô khách đưa cháu H1 xuống Trung tâm thành phố H đến nhà em gái C là Nguyễn Thị T2 để chơi.

Cùng ngày, ông L lo sợ C sẽ làm hại đến 03 con của chị L1 nên đã từ thành phố Hồ Chí Minh về nhà và được bà T1 kể về việc C đưa cháu H1 đi từ chiều ngày 20/9/2019 đến nay chưa đưa về và không liên lạc được. Đến 8 giờ 40 phút ngày 21/9/2019, ông L đã đến Công an huyện B trình báo sự việc trên. Sau khi tiếp nhận tin báo, do C đã tắt điện thoại, Công an huyện B đã gọi điện thoại trao đổi với Công an xã T, huyện T, Thái Bình đề nghị phối hợp đến nhà C để xác minh và yêu cầu C đưa cháu H1 về cho gia đình chị L1. Tuy nhiên, gia đình C và C không có ở nhà. Công an xã T đã gọi điện thoại cho bà T và cho biết việc C đưa cháu H1 đi khi chưa được sự đồng ý của gia đình cháu H1, gia đình cháu H1 đã trình báo Công an huyện B về việc C bắt cóc cháu H1, hiện Công an huyện B đang đi tìm C và cháu H1. Công an xã T đề nghị bà T liên lạc với C yêu cầu C đưa cháu H1 về nhà.

Khoảng 9 giờ ngày 21/9/2019, C cùng cháu H1 đến nhà T2, C gặp bà Vũ Thị T. Tại đây, C giới thiệu cháu H1 là con của chị L1 người yêu của C. Bà T đã yêu cầu C phải đưa cháu H1 về nhà. Khoảng 16 giờ cùng ngày, C đưa cháu H1 từ nhà chị T2 về huyện B. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, C và cháu H1 về đến khu vực xã C, B, do lo sợ bị cơ quan Công an bắt giữ nên C đã đưa cháu H1 đi ăn và đưa đến Phòng 204, tầng 2 của Nhà nghỉ N1 ở xã C, huyện B để tắm rửa nghỉ ngơi. Tại đây, L1 đã liên tục nhắn tin cho C để xin C đưa H1 về nhà nhưng C nói dối là đang đi xa nhằm mục đích dọa chị L1, để cho chị L1 lo lắng phải về Việt Nam cho C hàn gắn tình cảm và nhờ L1 nói với gia đình là không bắt cóc cháu H1, đồng thời bảo gia đình rút đơn tố giác. Tuy nhiên, chị L1 trả lời C là không thể về được nếu C đưa cháu H1 về nhà sẽ bảo gia đình rút đơn. Đến 23 giờ 05 phút cùng ngày, C biết chị L1 không thể về được nên đưa cháu H1 xuống quầy lễ tân để thanh toán trả phòng để đưa cháu H1 về nhà thì bị Công an huyện B mời về trụ sở để làm việc. Cơ quan CSĐT đã cho cháu H1 đi kiểm tra y tế, xác định sức khỏe cháu H1 bình thường, trên người không có thương tích gì.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng số: 118/CT-VKS ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đã truy tố ăn năn hối cải và xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa. Người giám hộ của bị hại trình bày: Lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa là đúng. Gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày và xác nhận lời khai của bị cáo là đúng. Nay bị hại và người giám hộ bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao C phạm tội “Giữ người trái pháp luật”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 157, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Cao C từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
  2. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Xuất phát từ mâu thuẫn tình cảm với chị Trương Thị Thu L1, ngày 20/9/2019 C đã giữ cháu H1, không đưa trả cháu H1 về nhà cho gia đình nhằm mục đích đe dọa, gây sức ép cho gia đình để gia đình yêu cầu chị L1 phải liên lạc gọi điện về cho C. Gia đình bà T1 và chị L1 đã gọi điện yêu cầu C đưa cháu H1 về trả cho gia đình; nhưng C không đưa về mà vẫn giữ cháu H1 trong suốt thời gian từ 16 giờ ngày 20/9/2019 đến 23 giờ 05 phút ngày 21/9/2019.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai người làm chứng ...và các chứng cứ tài liệu khác đã đầy đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Cao C đã phạm tội “Giữ người trái pháp luật” theo điểm e khoản 2 Điều 157 BLHS.

  1. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã chủ động từ nước ngoài về tích cực phối hợp với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  1. Tính chất mức độ, nhân thân, hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền tự do thân thể của người khác được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõn ràng. Ngoài ra, bị cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo (bệnh lao phổi) nên áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người giám hộ của bị hại không có yêu cầu gì. Xét đây là sự tự nguyện nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 157; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 331, 328, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao C phạm tội “Giữ người trái pháp luật“
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án.

Tuyên trả tự do cho bị cáo Nguyễn Cao C tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về tội khác.

Giao bị cáo Nguyễn Cao C về Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Bị cáo Nguyễn Cao C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Bị cáo, bị hại, người giám hộ của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Ba Vì;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - THA dân sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Trọng Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về giữ người trái pháp luật (illegal detention)

  • Số bản án: 139/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giữ người trái pháp luật (Illegal detention)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giữ người trái pháp luật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger