|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 139/2023/HNGĐ-ST Ngày 27-12-2023 V/v "Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Khắc Hiếu và bà Mai Thị Ngọc Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Cao Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Yên – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 106/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2023/QĐXX-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Hoàng M, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khu phố N, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
- Bị đơn: Bà Dương Thị Đức H, sinh năm 1979; Địa chỉ: Khu phố N, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và biên bản hòa giải, nguyên đơn ông Lê Hoàng M trình bày: Nguyên đơn và bị đơn bà Dương Thị Đức H tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 21/6/2004 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Trong quá trình chung sống, xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, nuôi dạy con cái và trách nhiệm gia đình. Đến tháng 8/2022, thì xảy ra mâu thuẫn gay gắt, không thể dung hoà và được hai bên gia đình hoà giải, khuyên bảo nhưng không thành. Hiện vợ chồng đã sống ly thân gần 01 năm nay, không ai còn quan tâm và chăm sóc lẫn nhau. Nay xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu được giải quyết ly hôn với bị đơn bà Dương Thị Đức H.
Về con chung: Vợ chồng có ba con chung tên Lê Thị Vũ H1, sinh ngày 08/6/2005; Lê Hoàng Ngọc H2, sinh ngày 15/12/2011; Lê Hoàng Phúc H3, sinh ngày 10/5/2020 (hiện các con đang ở với bị đơn). Đối với cháu Lê Thị Vũ H1 đã trưởng thành, hiện đang học Đại học nên nguyên đơn đồng ý hỗ trợ 3.000.000 đồng/tháng và ½ tiền ở, tiền học phí hàng năm trường Đại học Bách Khoa Thành phố H, kể từ khi Toà án xét xử cho đến khi cháu tốt nghiệp Đại học vì trước đây nguyên đơn vẫn hỗ trợ cho cháu. Đối với cháu Lê Hoàng Ngọc H2 và Lê Hoàng Phúc H3, nguyên đơn xin nhận nuôi dưỡng một cháu, cháu nào cũng được và không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Tại bản tự khai và biên bản hòa giải, bị đơn bà Dương Thị Đức H trình bày: Quá trình kết hôn đúng như nguyên đơn ông Lê Hoàng M trình bày, trong quá trình chung sống đến khoảng tháng 8/2022 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và hiện vợ chồng không còn sống chung từ tháng 6/2023 cho đến nay. Nay nguyên đơn kiên quyết xin ly hôn với bị đơn thì bị đơn đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có ba con chung tên Lê Thị Vũ H1, sinh ngày 08/6/2005; Lê Hoàng Ngọc H2, sinh ngày 15/12/2011; Lê Hoàng Phúc H3, sinh ngày 10/5/2020 (hiện các con đang ở với bị đơn). Từ trước đến nay, bị đơn là người trực tiếp nuôi dưỡng ba con chung. Đối với cháu Lê Thị Vũ H1 đã trưởng thành, hiện đang học Đại học nên nguyên đơn phải có nghĩa vụ hỗ trợ 3.000.000 đồng/tháng và ½ tiền ở, tiền học phí hàng năm trường Đại học Bách Khoa Thành phố H, kể từ khi Toà án xét xử cho đến khi cháu tốt nghiệp Đại học. Đối với cháu Lê Hoàng Ngọc H2 và Lê Hoàng Phúc H3, bị đơn xin nhận nuôi dưỡng hai con chung và yêu cầu nguyên đơn có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng cho hai cháu.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn ông Lê Hoàng M và bị đơn bà Dương Thị Đức H giữ nguyên ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 107, 108, 110, 116, 118 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Hoàng M được ly hôn với bị đơn bà Dương Thị Đức H. Về con chung: Vợ chồng có ba con chung tên Lê Thị Vũ H1, sinh ngày 08/6/2005; Lê Hoàng Ngọc H2, sinh ngày 15/12/2011; Lê Hoàng Phúc H3, sinh ngày 10/5/2020 (hiện các con đang ở với bị đơn). Giao hai con chung tên Lê Hoàng Ngọc H2, sinh ngày 15/12/2011; Lê Hoàng Phúc H3, sinh ngày 10/5/2020 cho bị đơn bà Dương Thị Đức H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Nguyên đơn ông Lê Hoàng M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/01 cháu (02 cháu là 4.000.000 đồng/tháng), thời hạn cấp dưỡng từ tháng 12/2023 và chấm dứt khi phát sinh một trong các trường hợp theo Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình. Đối với cháu Lê Thị Vũ H1 đã trưởng thành, hiện đang học Đại học nên ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn ông Lê Hoàng M có nghĩa vụ hỗ trợ 3.000.000 đồng/tháng và ½ tiền ở, tiền học phí hàng năm trường Đại học Bách Khoa Thành phố H cho cháu Lê Thị Vũ H1, kể từ tháng 12/2023 cho đến khi cháu tốt nghiệp Đại học. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Lê Hoàng M xin ly hôn với bị đơn bà Dương Thị Đức H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại thành phố T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn ông Lê Hoàng M và bị đơn bà Dương Thị Đức H tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2004, được Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 96, quyển số 01, ngày 21 tháng 6 năm 2004 là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, phát sinh những mâu thuẫn như nguyên đơn trình bày, thực tế vợ chồng không còn sống chung từ tháng 8/2022 cho đến nay, không ai còn quan tâm và chăm sóc lẫn nhau nên cả hai đều thống nhất ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa các đương sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn ông Lê Hoàng M được ly hôn với bị đơn bà Dương Thị Đức H.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có ba con chung tên Lê Thị Vũ H1, sinh ngày 08/6/2005; Lê Hoàng Ngọc H2, sinh ngày 15/12/2011; Lê Hoàng Phúc H3, sinh ngày 10/5/2020 (hiện các con đang ở với bị đơn). Đối với cháu Lê Hoàng Ngọc H2 và Lê Hoàng Phúc H3, nguyên đơn ông Lê Hoàng M xin nhận nuôi dưỡng một cháu, cháu nào cũng được và không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Bị đơn bà Dương Thị Đức H xin nhận nuôi dưỡng hai con chung và yêu cầu nguyên đơn có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng cho hai cháu. Xét thấy: Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, cả hai đều có điều kiện, công việc và thu nhập ổn định nên để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của các cháu và phù hợp với nguyện vọng của cháu H2. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao con chung tên Lê Hoàng Ngọc H2, sinh ngày 15/12/2011 cho bị đơn bà Dương Thị Đức H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung tên Lê Hoàng Phúc H3, sinh ngày 10/5/2020 cho nguyên đơn ông Lê Hoàng M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Đối với cháu Lê Thị Vũ H1, sinh ngày 08/6/2005 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn ông Lê Hoàng M có nghĩa vụ hỗ trợ 3.000.000 đồng/tháng và ½ tiền ở, tiền học phí hàng năm trường Đại học Bách Khoa Thành phố H cho cháu Lê Thị Vũ H1, kể từ tháng 12/2023 cho đến khi cháu tốt nghiệp Đại học.
[2.3] Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Hoàng M được ly hôn với bị đơn bà Dương Thị Đức H.
Về con chung: Vợ chồng có ba con chung tên Lê Thị Vũ H1, sinh ngày 08/6/2005; Lê Hoàng Ngọc H2, sinh ngày 15/12/2011; Lê Hoàng Phúc H3, sinh ngày 10/5/2020 (hiện các con đang ở với bị đơn). Giao con chung tên Lê Hoàng Ngọc H2, sinh ngày 15/12/2011 cho bị đơn bà Dương Thị Đức H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung tên Lê Hoàng Phúc H3, sinh ngày 10/5/2020 cho nguyên đơn ông Lê Hoàng M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Đối với cháu Lê Thị Vũ H1, sinh ngày 08/6/2005 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn ông Lê Hoàng M có nghĩa vụ hỗ trợ 3.000.000 đồng/tháng và ½ tiền ở, tiền học phí hàng năm trường Đại học Bách Khoa Thành phố H cho cháu Lê Thị Vũ H1, kể từ tháng 12/2023 cho đến khi cháu tốt nghiệp Đại học.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí HNGĐ-ST: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn ông Lê Hoàng M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0008042 ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Vân |
5
Bản án số 139/2023/HNGĐ-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 139/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Lê Hoàng Minh và bị đơn Dương Thị Đức Hạnh
