|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 139/2024/DS-ST
Ngày 27 – 5 – 2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Thái Hoàng Bo
Ông Nguyễn Hoàng Ảnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên tòa: Bà Ngô Trà My – Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 792/2023/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần B; Địa chỉ: Số D, đường N, phường E, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quang T – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phúc H – Chức vụ: Giám đốc Trung tâm quản lý và thu hồi nợ.
Người đại diện theo ủy quyền lại của ông Nguyễn Phúc H: Ông Nguyễn Hồng T1 – Chức vụ: Chuyên viên hiện trường; Địa chỉ cư trú: Số A, đường T, phường A, quận N, Thành phố Cần Thơ và ông Đỗ Quốc K – Chức vụ: Trưởng bộ phận quản lý khách hàng cá nhân; Địa chỉ cư trú: Số A, đường A, khóm D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (ông K có mặt, ông T1 vắng mặt);
- Bị đơn:
+ Ông Huỳnh Minh H1, sinh năm 1980; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt);
+ Bà Huỳnh Hữu D, sinh năm 1984; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Cụ Nguyễn Thị L, sinh năm 1938; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt);
+ Cháu Huỳnh Đức M; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp của cháu M: Ông Huỳnh Minh H1 và Bà Huỳnh Hữu D; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt);
+ Ông Dương Thái D1, sinh năm 1993; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và quá trình giải quyết vụ án người đại diện của Ngân hàng trình bày:
Ngân hàng với ông H1 và bà D có ký kết các hợp đồng sau:
- Hợp đồng tín dụng hạn mức khách hàng cá nhân số 0582200019300 ngày 15/7/2022, số tiền vay 1.900.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn nuôi tôm, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất quy định giấy nhận nợ số 0582200019300005 ngày 14/7/2023 là 13,9%/năm (thời hạn từ 14/7/2023 đến 14/10/2023), Ngân hàng đã giải ngân số tiền trên cho ông H1 và bà D.
- Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng số 05821000024TD ngày 19/3/2021, cấp hạn mức tín dụng 30.000.000 đồng, ông H1 đã sử dụng thẻ tín dụng với hạn mức này.
- Để đảm bảo cho khoản vay, ông H1 ký với Ngân hàng hai hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ gồm: số 0582200019400 ngày 15/7/2022 tại Văn phòng C và số 0582000020400 ngày 05/11/2020 tại Văn phòng C1. Các bất động sản thế chấp gồm các thửa đất số 632 diện tích 1.375,6m² tên Huỳnh Ánh X số CP308762, thửa đất số 633 diện tích 5.140,4m² tên Huỳnh Ánh X số CP308763, thửa đất số 634 diện tích 4.903,5m² tên Huỳnh Thị N được Sở T2 cấp giấy chứng nhận cùng ngày 20/3/2019, đều đã cập nhật thay đổi sang tên ông Huỳnh Minh H1. Ngoài ra, còn bất động sản tại thửa số 377 diện tích 7.744,4m² số CP308764 và thửa số 390 diện tích 17.289,6m² số CP308765 cùng tên Huỳnh Minh H1 và các thửa đất đều thuộc tờ bản đồ 01, tọa lạc ấp T, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
Quá trình vay ông H1 và bà D vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo cam kết giữa các bên, mặc dù Ngân hàng đã đôn đốc nhắc nhở nhưng chưa thực hiện. Tính đến ngày 27/10/2023, ông H1 và bà D còn nợ Ngân hàng đối với hợp đồng tín dụng với số vốn là 1.900.000.000 đồng, lãi trong hạn 22.347.893 đồng, lãi chậm trả 85.718 đồng, lãi phạt gốc 15.194.795 đồng. Đối với thẻ tín dụng nợ vốn là 18.619.857 đồng, lãi 160.692 đồng, tổng là 18.780.549 đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu ông H1, bà D trả số tiền nợ tổng các khoản vay nêu trên. Đồng thời yêu cầu tiền lãi phát sinh từ ngày 27/10/2023 cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì Ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán nợ vay thì ông H1, bà D phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả xong số tiền nợ cho Ngân hàng.
* Ông Huỳnh Minh H1 và bà Huỳnh Hữu D thống nhất trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về các hợp đồng vay vốn cũng như thế chấp giữa các bên và ông H1 và bà D có nợ Ngân hàng số tiền Ngân hàng khởi kiện là đúng. Nay ông bà cũng thống nhất theo yêu cầu trả nợ cũng như yêu cầu về phát mãi tài sản để đảm bảo thu hồi nợ. Tuy nhiên do tài chính đang gặp khó khăn nên yêu cầu Ngân hàng cho thời gian và hỗ trợ phương án đáo hạn cho vay lại để tháo gỡ khó khăn về tài chính. Đối với hợp đồng hùn vốn thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết và ông bà trả cho ông D1 phần hùn là 1.450.000.000 đồng thì các tài sản đầu tư của ông D1 thuộc về ông bà và đồng ý xử lý nếu phát mãi thu hồi nợ. Tuy nhiên, do ông D1 không yêu cầu độc lập trong vụ án này nên ông, bà cũng không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ông Dương Thái D1 trình bày:
Vào ngày 15/12/2019, ông D1 có hợp đồng hùn nuôi tôm công nghiệp trên phần đất của ông H1, bà D cụ thể như sau: 03 ao nuôi tôm công nghiệp diện tích 5.000m², một ao gièo 400m², 04 ao lắng khoảng 7.000m² các ao này đều có trải bạt, 01 nhà kính khoảng 1.500m². Tiền đầu tư thuê xáng cuốc làm ao, trải bạt lót, nhà kính và các trang thiết bị phục vụ ao nuôi tôm công nghiệp với tổng chi phí đầu tư mà ông đã bỏ vào là 1.450.000.000 đồng. Còn bên phía ông H1 và bà D góp hùn vốn là phần đất diện tích 12.400m², đất tại ấp T, xã N. Việc phân chia lợi nhuận lãi hay lỗ đều chia theo tỷ lệ 50/50, các chi phí đều do ông H1 và bà D theo dõi và tính toán, sau khi đầu tư ông cũng giao ao nuôi cho ông H1 và bà D trực tiếp chăm sóc quản lý và nuôi tôm. Hai bên ký hợp đồng với thời hạn là 6 năm, từ ngày 15/12/2019 đến ngày 15/12/2024, có thể gia hạn hợp đồng thêm 3 năm. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, ông không có ý kiến hay yêu cầu gì kể cả việc yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm thu hồi nợ. Trường hợp ông H1, bà D không trả tiền ông sẽ khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác.
* Cụ Nguyễn Thị L trình bày:
Thống nhất ý kiến trình bày của ông H1, bà D. Tuy nhiên, cụ xác định căn nhà và các phần mộ có trên đất là tài sản của cụ, cụ yêu cầu được tiếp tục sinh sống trên đất.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện nguyên đơn xác định đối với khoản nợ của bị đơn tính đến ngày 27/5/2024, ông H1 và bà D còn nợ Ngân hàng đối với hợp đồng tín dụng với số vốn là 1.900.000.000 đồng, lãi suất 266.836.091 đồng, tổng là 2.166.836.091 đồng. Đối với thẻ tín dụng nợ tổng vốn lãi là 26.272.757 đồng. Nay Ngân hàng yêu cầu ông H1, bà D trả số tiền nợ tổng các khoản vay là 2.193.108.848 đồng. Đồng thời yêu cầu tiền lãi phát sinh từ ngày 28/5/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ. Đối với hồ sơ thẩm định đất hiện trạng hiện tại đúng như thời điểm thẩm định cho vay, tuy nhiên quá trình canh tác đất ông H1 và bà D có cải tạo các ao nuôi công nghiệp. Việc ông H1, bà D, cụ L, ông D1 cho rằng tài sản trên đất không thuộc sở hữu của ông H1, bà D thì Ngân hàng không đồng ý. Bởi vì, thời điểm cho vay ông H1 và bà D cam kết tài sản gắn liền với đất của ông, bà nên Ngân hàng mới chấp nhận ký hợp đồng thế chấp.
- Bị đơn xác định đồng ý với các yêu cầu của Ngân hàng về việc trả nợ và phát mãi tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, phần nhà và các khu mộ đều của mẹ ông H1 là cụ L nên yêu cầu cho thời gian để trường hợp có phát mãi tài sản thì di dời. Riêng các phần hùn của ông D1 tự thỏa thuận với ông D1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự nên không có kiến nghị và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 95, khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông H1, bà D có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tính đến hết ngày 27/5/2024 là 2.193.108.848 đồng. Trong đó, đối với khoản vay theo hợp đồng tín dụng vốn là 1.900.000.000 đồng, nợ lãi 266.836.091 đồng, đối với khoản vay thẻ tín dụng tổng vốn lãi là 26.272.757 đồng và tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến ngày tất toán xong nợ, chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm để thi hành khoản nợ vay nêu trên. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ông Dương Thái D1 có yêu cầu xét xử vắng mặt; Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng T1 vắng mặt, tuy nhiên tại văn bản ủy quyền số 744/2023/UQ-BVBank ngày 02/11/2023 thể hiện nguyên đơn ủy quyền cho ông Nguyễn Hồng T1 và ông Đỗ Quốc K tham gia tố tụng, trường hợp một bên vắng mặt thì người còn lại vẫn có quyền, nghĩa vụ đại diện cho nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử xử căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.
[2] Ngân hàng yêu cầu ông Huỳnh Minh H1, bà Huỳnh Hữu D thanh toán nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, đồng thời công nhận hợp đồng thế chấp phát mãi tài sản bảo đảm thu hồi nợ cho các khoản vay. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu của Ngân hàng là tranh chấp hợp đồng dân sự cụ thể hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[3] Về nội dung khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng với ông H1, bà D trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nêu trên.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H1, bà D đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, liên tục không trả nợ trong nhiều kỳ. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông H1, bà D vẫn không thanh toán nợ. Tạm tính đến ngày 27/5/2024, tổng số tiền còn nợ Ngân hàng số vốn là 1.900.000.000 đồng, lãi suất 266.836.091 đồng, tổng là 2.166.836.091 đồng. Đối với thẻ tín dụng nợ tổng vốn lãi là 26.272.757 đồng, tổng các khoản vay là 2.193.108.848 đồng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông H1, bà D đồng ý với toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên xin trả dần cho Ngân hàng. Do đó, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nay ông H1, bà D vi phạm các nghĩa vụ trả nợ như cam kết trong hợp đồng nên cần buộc ông H1, bà D phải trả số tiền còn nợ nêu trên cho Ngân hàng là phù hợp với Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015 và điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng.
[3.2] Về lãi suất: Đối với khoản tiền lãi mà Ngân hàng tạm tính đến ngày 27/5/2024 trong đó nợ lãi 266.836.091 đồng và tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến ngày tất toán. Do ông H1, bà D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng đã chuyển khoản nợ trên thành nợ quá hạn và buộc ông H1, bà D phải trả lãi theo Hợp đồng tín dụng là 13,9%/năm; nợ lãi quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Việc Ngân hàng áp dụng mức lãi suất và đề nghị ông H1, bà D phải trả là phù hợp với quy định về lãi và lãi suất quá hạn của hợp đồng tín dụng, phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.
Về lãi suất tiếp tục, Ngân hàng yêu cầu tính kể từ ngày 28/5/2024 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho đến khi ông H1, bà D thanh toán xong khoản nợ. Theo Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, thể hiện: “...kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”. Từ quy định nêu trên, yêu cầu của Ngân hàng là có cơ sở nên được chấp nhận.
[3.3] Về hợp đồng thế chấp và tài sản thế chấp:
Ông H1, bà D có ký với Ngân hàng hai hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ gồm: số 0582200019400 ngày 15/7/2022 tại Văn phòng C và số 0582000020400 ngày 05/11/2020 tại Văn phòng C1. Các bất động sản thế chấp gồm các thửa đất số 632 diện tích 1.375,6m² số CP308762, thửa đất số 633 diện tích 5.140,4m² số CP308763, thửa đất số 634 diện tích 4.903,5m² số CP 308766, thửa số 377 diện tích 7.744,4m² số CP308764 và thửa số 390 diện tích 17.289,6m² số CP308765 các thửa đất đều thuộc tờ bản đồ 01, tọa lạc ấp T, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau thuộc quyền sử dụng của ông Huỳnh Minh H1. Trường hợp ông H1, bà D không thanh toán khoản nợ theo hợp đồng nêu trên thì tài sản thế chấp là các phần đất và các tài sản gắn liền với đất được xử lý theo quy định tại Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đối với căn nhà của ông H1, bà D sinh sống cùng cụ Hoàng Thị L1 và con Huỳnh Đức M: Hội đồng xét xử thấy rằng, ông H1, bà D và cụ L1 đều cho rằng nhà và các khu nhà mộ đều là tài sản của cụ L1, không phải tài sản của ông H1, bà D nên khi phát mãi tài sản yêu cầu cho thời gian di dời các tài sản này đi. Yêu cầu này của các đương sự là không có cơ sở. Bởi lẽ, khi ký hợp đồng thế chấp nguyên đơn, bị đơn đều xác định Ngân hàng có tiến hành thẩm định đất, ông H1 và bà D đều xác định đây là tài sản của ông, bà gắn liền với phần đất ông bà được tặng cho và đem thế chấp cho Ngân hàng để đảm bảo cho khoản vay. Mặt khác, tại biên bản thẩm định đất ngày 04/01/2024 của Tòa án, ông H1 và bà D cũng xác định tài sản hiện tại không thay đổi so với thời điểm Ngân hàng vào thẩm định cho vay và các tài sản trên đất đều của ông H1, bà D. Điều này cho thấy, tại thời điểm ký hợp đồng thế chấp ông H1, bà D đã xác định các tài sản trên đất thuộc sở hữu của ông, bà nên ông bà đã đồng ý ký hợp đồng thế chấp với Ngân hàng thế chấp bất động sản và toàn bộ tài sản gắn liền với đất mà không đặt ra tài sản trên đất không phải của ông, bà như tại phiên tòa hôm nay và ông H1, bà D và cụ L1 đặt ra trường hợp xin di dời là không có sơ sở.
Đối với phần hùn của ông D1 là các ao nuôi tôm công nghiệp trên đất thế chấp, quá trình giải quyết ông D1 có đơn yêu cầu giải quyết buộc ông H1, bà D trả số tiền 1.450.000.000 đồng ông hùn nuôi tôm trên đất, nhưng sau đó không nộp tạm ứng án phí và xin rút lại đơn yêu cầu này, đồng thời ông D1, ông H1, bà D xác định trong trường hợp chấm dứt hùn vốn thì ông H1, bà D sẽ trả cho ông D1 số tiền 1.450.000.000 đồng xác định không có ý kiến về việc phát mãi tài sản bảo đảm. Do đó tài sản này thuộc tài sản thế chấp cho Ngân hàng để đảm bảo cho khoản vay là đúng quy định tại Điều 319 Bộ luật Dân sự. Trường hợp ông H1, bà D không thực hiện trả số tiền ông D1 hùn vốn nuôi tôm thì có quyền khởi kiện ông H1, bà D đòi tiền hùn vốn bằng vụ kiện dân sự khác.
Từ những phân tích trên, yêu cầu của Ngân hàng về việc phát mãi toàn bộ tài sản theo hợp đồng thế chấp đã ký kết để bảo đảm cho khoản vay là có cơ sở.
[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp quy định pháp luật và các nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 13, Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông H1, bà D phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn là 37.931.088 đồng. Ông H1, bà D có hồ sơ xin xét giảm án phí nên đã được xét giảm 50%.
[6] Về chi phí tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông H1, bà D phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 800.000 đồng. Ông H1, bà D có trách nhiệm giao lại số tiền trên để hoàn trả cho Ngân hàng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 299, 303, 319, 463, 466 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 1 Điều 13, Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B.
1.1. Buộc ông Huỳnh Minh H1 và bà Huỳnh Hữu D cùng có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B số tiền vốn và lãi tính đến ngày 27/5/2024 là 2.193.108.848 đồng (Trong đó, hợp đồng tín dụng số vốn là 1.900.000.000 đồng, lãi suất 266.836.091 đồng, tổng là 2.166.836.091 đồng và đối với thẻ tín dụng nợ tổng vốn lãi là 26.272.757 đồng)
Ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày 27/5/2024, thì kể từ ngày tiếp theo là ngày 28/5/2024 khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
1.2. Trường hợp ông Huỳnh Minh H1 và bà Huỳnh Hữu D không thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng nêu trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần B có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi toàn bộ phần đất và toàn bộ các tài sản gắn liền với đất, thửa đất số 632 diện tích 1.375,6m² số giấy chứng nhận CP308762, thửa đất số 633 diện tích 5.140,4m² số giấy chứng nhận CP308763, thửa đất số 634 diện tích 4.903,5m² số giấy chứng nhận CP 308766, thửa số 377 diện tích 7.744,4m² số giấy chứng nhận CP308764 và thửa số 390 diện tích 17.289,6m² số giấy chứng nhận CP308765 các thửa đất đều thuộc tờ bản đồ 01, tọa lạc ấp T, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau thuộc quyền sử dụng của ông Huỳnh Minh H1.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Ông Huỳnh Minh H1 và bà Huỳnh Hữu D phải chịu 37.931.088 đồng (ba mươi bảy triệu chín trăm ba mươi mốt nghìn không trăm tám mươi tám đồng), (chưa nộp).
2.2. Ngân hàng Thương mại cổ phần B không phải chịu án phí. Ngân hàng Thương mại cổ phần B đã nộp tạm ứng số tiền là 35.064.000 đồng (ba mươi lăm triệu không trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000306 ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được nhận lại.
3. Chi phí tố tụng: Ông Huỳnh Minh H1 và bà Huỳnh Hữu D phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng). Ông Huỳnh Minh H1 và bà Huỳnh Hữu D có trách nhiệm hoàn trả số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong đối với tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Ngọc Trúc |
Bản án số 139/2024/DS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 139/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, buộc trả vốn vay và phát mãi tài sản bảo đảm
