|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số:139/2023/HS-PT Ngày 26/10/2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Anh Tuyết
Các Thẩm phán: Ông Bùi Đăng Huy và ông Trần Hữu Hiệu
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Hải Long - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 149/2023/TLPT- HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Phạm Văn V do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2023/HS-ST ngày 31/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
*Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Phạm Văn V, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn V1 và bà Đoàn Thị T; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
*Bị hại:
Ông Phạm Văn V1, sinh năm 1937; Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương; anh Phạm Ngọc V2, sinh năm 1963 và chị Đoàn Thị Kim H, sinh năm 1966, đều ở địa chỉ: thôn Đ, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương (vắng mặt)
Bản án không có kháng cáo của bị hại và không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mâu thuẫn trong việc phân chia quyền sử dụng đất giữa Phạm Văn V với ông Phạm Văn V1 (bố đẻ V) và anh Phạm Ngọc V2 (anh trai Vin) nên chiều ngày 27/02/2023, V đến nhà ông Phạm Văn V1 thì xảy ra cãi nhau giữa V và anh V2. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, V cầm 01 viên gạch chỉ đứng trước cửa nhà ném vào tủ chè nơi thờ tự của gia đình ông V1, làm cho viên gạch va vào mép tủ, rơi xuống mặt kính của tủ và mặt kính bàn uống nước. Tiếp đó, V thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 34B2- 924.32 của anh V2 để ở trước nhà bà Phạm Thị N. Vin nhặt nửa viên gạch đập khoảng 03 đến 04 lần vào đầu xe và 04 lần vào đèn xi nhan xe của anh V2. Hậu quả: Làm lõm mặt tủ, vỡ 02 tấm kính màu trắng của tủ chè; vỡ 01 tấm kính ở trên mặt bàn của ông V1; xe mô tô của anh V2 bị vỡ mặt nạ, đồng hồ công tơ mét, nhựa đèn xi nhan phía trước, phần nhựa pha đèn chiếu sáng.
Tại kết luận định giá tài sản số 15 ngày 21/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản xác định trị tài sản bị thiệt hại: Đối với xe mô tô của anh V2: Phần mặt nạ xe là 450.000 đồng; phần mặt đồng hồ xe là 250.000 đồng; phần nhựa bị vỡ của 02 bên đèn xi nhan phía trước xe mô tô là 1.240.000 đồng; phần nhựa mặt pha đèn chiếu sáng phía trước là 450.000 đồng. Đối với tài sản của ông V1: 01 tấm kính trắng có kích thước (44 x 34 x 0,2) cm là 26.900 đồng; 01 tấm kính trắng có kích thước (40 x 30 x 0,2) cm là 21.600 đồng; 01 tấm kính có kích thước (120 x 50 x 01) cm là 270.000 đồng; vết lõm trên mặt tủ có kích thước (1,5 x 0,2) cm là 200.000 đồng. Tổng thiệt hại của các tài sản là 2.908.500 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2023/HS- ST ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang đã quyết định: Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn V 07 (Bẩy) tháng tù. Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 01/8/2023, bị cáo V kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Phạm Văn V giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến và đề nghị: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo Phạm Văn V 06 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày 26/10/2023. Bị cáo V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo V trong thời hạn luật định là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]Về nội dung:
Lời khai của bị cáo V tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai tại cấp sơ thẩm và phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 27/02/2023, tại nhà ông Phạm Văn V1 bị cáo V đã cầm 01 viên gạch chỉ ném vào tủ chè nơi thờ tự của gia đình, làm viên gạch va vào mép tủ, rơi xuống mặt kính của tủ và mặt kính bàn uống nước làm hư hỏng tủ chè, mặt kính tủ chè, mặt kính bàn uống nước của ông V1, các tài sản bị thiệt hại trị giá là 518.500 đồng. Tiếp sau đó, V cầm nửa viên gạch chỉ đập khoảng 03 - 04 lần vào đầu xe mô tô và khoảng 04 lần vào đèn xi nhan của xe mô tô, làm hư hỏng một số bộ phận xe mô tô của anh V2. Tổng các tài sản bị thiệt hại trị giá 2.390.000 đồng.
Hành vi bị cáo V cố ý làm hư hỏng các tài sản của ông V1 và anh V2, chị H theo kết luận định giá tài sản là 2.908.500 đồng và đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về Tội cố ý làm hư hỏng tài sản theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người đúng tội.
Về tội danh bị cáo, bị hại không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
[3]Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo V thì thấy:
Cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo V xuất trình tài liệu về việc tự nguyện nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và đơn trình bày hoàn cảnh gia đình có xác nhận của đại diện chính quyền địa phương nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ mới theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tổng giá trị tài sản bị cáo gây thiệt hại là không lớn (tài sản của ông V1= 518.500 đồng; tài sản của anh V2, chị H = 2.390.000 đồng) và đây là tài sản của người thân trong gia đình bị cáo, hiện các bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo V có cơ hội sửa chữa sai phạm; bị cáo lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt và chấp hành quy định tại địa phương, có nơi cư trú ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, vợ bị cáo đang bị bệnh hàng tháng được nhận trợ cấp xã hội, bị cáo hiện là trụ cột kinh tế chăm lo cho cả gia đình hàng ngày. Do đó, Hội đồng xét xử thấy việc cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo V mức án 07 tháng tù là nghiêm khắc nên chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo V, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo một phần hình phạt, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự và đảm bảo chính sách hình sự đối với người phạm tội.
[4]Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; ghi nhận việc bị cáo V đã nộp xong tiền án phí hình sự;
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn V. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2023/HS-ST ngày 31/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt đối với bị cáo V.
- Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn V 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Phạm Văn V cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
- Về án phí: Bị cáo Phạm Văn V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Ghi nhận việc bị cáo Phạm Văn V đã tự nguyện nộp xong tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2020/0000044 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Tuyết |
Bản án số 139/2023/HS-PT ngày 26/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 139/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn V
