TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 139/2024/DS-ST
Ngày: 26 - 7 - 2024
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Liên và ông Lê Văn Tập
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Y Kăn Niê - Thư ký Tòa án thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Xuân Trang - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2024/TLST-DS ngày 04/3/2024, về việc “Kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2024/QĐXX-DS ngày 21/6/2024, giữa:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969.
Địa chỉ: Số G đường N, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Lê Anh T, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967.
Địa chỉ: Số C đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Giữa bà Nguyễn Thi H2 và bà Nguyễn Thị H1 có mối quan hệ quen biết và làm ăn chung với nhau. Bà H1 thường xuyên mua các loại cây giống của bà H2 (chủ yếu là cây sầu riêng, cây mắc ca). Trong quá mua bán, bà H1 xin nợ lại tiền mua cây và viết cho bà H2 các giấy nhận nợ, cụ thể như sau:
+ Ngày 26/12/2019, bà H1 ghi giấy nhận nợ tiền mua cây giống các loại với số tiền 80.000.000 đồng và hẹn chậm nhất ngày 26/12/2020 thanh toán (chi tiết theo Giấy vay tiền ngày 26/12/2019).
+ Ngày 15/12/2020 bà H1 tiếp tục mua 1.000 cây M Ca với tổng số tiền 25.000.000 đồng (25.000đồng/1 cây) và ghi giấy nhận nợ hẹn đến tháng 3/2021 thanh toán (chi tiết theo Giấy vay tiền ngày 15/12/2020). Đối với giấy nợ này, ngày 01/11/2023 bà H2 lên nhà bà H1 đòi tiền, bà H1 tiếp tục hứa hẹn, bà H2 đưa giấy nhận nợ này yêu cầu bà H1 ghi cam kết ngày trả tuy nhiên sau khi lấy được giấy nhận nợ này bà H1 lập tức xé rách nhưng bà H2 đã lấy lại được bản gốc này. Sau đó bà Nguyễn Thị H đã nhiều lần liên hệ, gọi điện và đến nhà bà H1 tại địa chỉ số C N, phường T, thành phố B để yêu cầu bà H1 thanh toán tuy nhiên bà H1 nhiều lần hứa hẹn, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Nay để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị H đề nghị Quý Tòa xem xét và giải quyết các yêu cầu như sau:
Buộc bà Nguyễn Thị H1 phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị H tổng số tiền gốc 105.000.000đồng và lãi tạm tính đến hết ngày xét xử 26/7/2024 với lãi suất theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 với mức lãi 10%/năm.
Cụ thể: Đối với số tiền vay 80.000.000 đồng yêu cầu tính lãi suất từ ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ 31/3/2021 đến nay và đối với số tiền vay 25.000.000 đồng bà H yêu cầu tính lãi suất từ ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ là ngày 01/4/2021 đến nay.
Buộc bà Nguyễn Thị H1 phải tiếp tục thanh toán tiền lãi cho đến khi thanh toán dứt điểm khoản nợ.
Trường hợp bà H1 không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền nợ trên thì bà Nguyễn Thị H có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thầm quyền thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành án như kê biên tài sản, niêm phong, phong tỏa tài sản, phát mãi tài sản mà bà H1 sở hữu/đồng sở hữu/thừa kế,... để thu hồi khoản nợ.
2. Trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Giữa tôi (Nguyễn Thị H1) và bà Nguyễn Thị H có mối quan hệ quen biết và làm ăn chung với nhau, tôi thường xuyên mua cây giống của bà Nguyễn Thị H (chủ yếu là cây sầu riêng, cây mắc ca). Sau khi tính toán với nhau, vào khoảng tháng 11 tháng 12 năm 2023 hai bên có chốt lại số nợ còn lại là 80.000.000 đồng, hai bên không thoả thuận ngày trả, không thoả thuận lãi suất và tôi cũng xác nhận còn nợ bà H đúng số tiền 80.000.000 đồng và có trách nhiệm trả số tiền này cho bà H. Về lãi suất thì tôi không đồng ý trả cho bà H và đề nghi Toà án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Còn đối với số tiền 25.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 15/12/2020, thì tôi không đồng ý. Giấy vay tiền này tôi đã trả, đã xoá bỏ nên không còn giá trị, tôi không còn nợ bà H số tiền này, vì vậy tôi không đồng ý với nội dung yêu cầu khởi kiện nay của bà H. Nay, bà Nguyễn Thị H khởi kiện tổng số tiền gốc và lãi tạm tính đến hết ngày 04/06/2024 với số tiền 149.228.767 đồng, trong đó nợ gốc là 105.000.000 đồng, nợ lãi là 44.228.767 đồng thì tôi không đồng ý, tôi chỉ đồng ý trả số tiền 80.000.000 đồng.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến nay Hội đồng xét xử, thẩm phán, thư ký, đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H: Buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả số tiền gốc 80.000.000đồng và lãi suất phát sinh.
Bác một phần đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H về việc buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả số tiền gốc 25.000.000đồng và lãi suất phát sinh.
Về án phí, đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn phải trả số tiền đã vay, đây là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227; Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Nội dung khởi kiện:
[3.1]. Về số tiền vay gốc: Qua các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, lời khai của nguyên đơn và bị đơn, xác định được rằng:
+ Bà H1 có mua nhiều loại cây giống của bà H như mác ca, sầu riêng.... chưa trả tiền nên ngày 26/12/2019, bà H1 có ghi giấy nhận nợ với số tiền 80.000.000 đồng và hẹn chậm nhất ngày 26/12/2020 thanh toán.
+ Ngày 15/12/2020 bà H1 tiếp tục mua 1.000 cây Mắc Ca với tổng số tiền 25.000.000 đồng và ghi giấy nhận nợ hẹn đến tháng 3/2021 thanh toán và cùng ngày bà H hẹn ngày 30/3/2021 sẽ thanh toán hết số tiền gốc 80.000.000 đồng.
Đối với số tiền gốc 80.000.000đồng bà H1 thừa nhận nợ và chấp nhận trả cho bà H là phù hợp nên cần chấp nhận.
Đối với số tiền gốc 25.000.000đồng:
Bà H cho rằng: Khoản nợ này chưa trả, đến hẹn trả nợ của khoản vay 80.000.000đồng nhưng bà H1 chưa có tiền trả nên bà H1 xin khất đến ngày 30/3/2021 sẽ trả nên bà H1 viết giấy khất nợ đằng sau giấy nhận nợ của số tiền 25.000.000đồng. Sau đó bà H đòi tiền bà H1 nhưng bà H1 không trả nên hai bên xảy ra cãi nhau, bà H1 đã lấy tờ giấy vay của của Hồng xé nhưng bà H đã giật lại được. Không có sự việc bà H1 trả tiền cho bà H mà xóa bỏ giấy này vì mặt sau của tờ giấy còn khoản vay 80.000.000đồng mà bà H1 chưa trả cho bà H nên không có sự việc bà H1 đã trả khoản vay này cho bà H.
Bà H1 cho rằng: Khoản nợ này bà đã trả xong nên đã xóa bỏ.
Xét thấy, trường hợp bà H1 đã trả khoản vay này cho bà H thì bà H nhận tiền, ký nhận và phải đưa giấy vay cho bà H1 hủy bỏ, trường hợp mặt sau của tờ giấy còn khoản vay khác thì bà H1 phải yêu cầu bà H gạch bỏ mới phù hợp.
Như vậy có căn cứ cho rằng bà H1 chưa trả khoản vay 25.000.000đồng cho bà H.
Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H: Buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả số tiền nợ gốc là 105.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị H.
[3.2]. Về lãi suất:
Đối với số tiền 80.000.000 đồng: Bà H1 cho rằng không thỏa thuận thời hạn trả nhưng theo giấy khất nợ ngày 15/12/2020 bà H1 hẹn đến ngày 30/3/2021 trả. Bà H yêu cầu tính lãi suất 10%/năm kể từ ngày 31/3/2021 đến nay là phù hợp.
Tính lãi suất như sau: Từ ngày 31/3/2021 đến ngày 26/7/2024 là 1213 ngày x 80.000.000đx 0.83%: 30 ngày = 26.847.000đồng (làm tròn).
Đối với số tiền 25.000.000 đồng: Hẹn đến tháng 3/2021 thanh toán, không thỏa thuận lãi suất, bà H yêu cầu tính lãi suất từ ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ là ngày 01/4/2021 đến nay theo mức 10%/năm là phù hợp.
Từ ngày 01/4/2021 đến ngày 26/7/2024 là 1212 ngày x 25.000.000đồng x 0.83%: 30 ngày = 8.383.000đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Như vậy, cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi hiện của bà Nguyễn Thị H: Buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho bà Nguyễn Thị H tổng số tiền 140.230.000đồng. Trong đó tiền gốc 105.000.000đồng, tiền lãi suất tính đến ngày 26/7/2024 là 35.230.000đồng.
[4]. Về án phí Dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại cho bà Nguyễn Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 160; Điều 161; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Điều 266 và Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng các Điều 357, Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 468 và Điều 470; Bộ luật dân sự 2015.
- Áp dụng Điều 26 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.
Buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho bà Nguyễn Thị H tổng số tiền 140.230.000 đồng. Trong đó tiền gốc 105.000.000đồng và tiền lãi suất tính đến ngày 26/7/2024 là 35.230.000đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm
Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.011.500 đồng. Trả lại cho bà Nguyễn Thị H 3.617.089đồng tiền tạm ứng án phí do ông Lê Xuân T1 nộp thay theo biên lai thu số 0005393 ngày 27/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Nơi nhận: -TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk ; - VKSND Tp. BMT; - Chi cục T2.BMT; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Mai |
Bản án số 139/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 139/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng. Buộc bà Nguyễn Thị Hạnh phải trả cho bà Nguyễn Thị Hồng tổng số tiền 140.230.000 đồng. Trong đó tiền gốc 105.000.000đồng và tiền lãi suất tính đến ngày 26/7/2024 là 35.230.000đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. 2. Về án phí dân sự sơ thẩm Bị đơn bà Nguyễn Thị Hạnh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.011.500 đồng. Trả lại cho bà Nguyễn Thị Hồng 3.617.089đồng tiền tạm ứng án phí do ông Lê Xuân Trung nộp thay theo biên lai thu số 0005393 ngày 27/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk.
