TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. HẢI DƯƠNG - TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 139/2023/HS- ST Ngày: 25 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tú.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Trung Bắc.
- Ông Bùi Văn Thiệu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 126/2023/TLST- HS ngày 18 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2023/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 8 năm 2023; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 08/TB-TA ngày 15 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Đức D, sinh năm 1993 tại tỉnh Hải Dương. ĐKHKTT: Thôn L, xã T, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở hiện nay: H, phường Quang Trung, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị B; vợ Mai Thu Tr có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/7/2009 bị Công an huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi "Trộm cắp tài sản", mức phạt 500.000 đồng đã nộp phạt ngày 08/9/2009. Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/4/2023 đến nay (hiện đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Hải Dương). Có mặt.
Người làm chứng: Anh Ngô Duy H và chị Ngô Thị H.
(Những người làm chứng vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 23/4/2023, Nguyễn Đức D mượn xe mô tô kiểu dáng JUPITER, BKS 15K1-189.23 của anh Nguyễn Văn N đi từ nhà ra khu vực chân cầu Niệm Nghĩa, quận Lê Châu, thành phố Hải Phòng mục đích mua ma túy về để bán kiếm lời. Tại đây D gặp và mua của một người đàn ông không quen biết (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) một gói ma túy đá với số tiền 400.000 đồng và người đàn ông đó một gói ma túy đá. Sau đó D đi về thành phố Hải Dương. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, D cầm gói ma túy đi đến khu vực ngõ 20 Quán Thánh, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (1,5x2)cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, được bọc bên ngoài bằng băng dính màu đen trong lòng bàn tay phải, D khai nhận là ma túy, loại Methamphetamine cất giấu mục đích để bán kiếm lời. Quá trình bắt giữ có người chứng kiến là anh Ngô Duy Hùng và chị Ngô Thị H.
Tại Kết luận giám định số 173/KL-KTHS ngày 24-02-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng được niêm phong trong phong bì ghi thu của Nguyễn Đức D gửi đến giám định khối lượng là: 0,274 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại cáo trạng số 124/CT - VKSTPHD ngày 17-7-2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Đức D về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố của VKSND thành phố Hải Dương là đúng, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Người chứng kiến anh Ngô Duy H và chị Ngô Thị H vắng mặt tại phiên tòa có lời khai trong hồ sơ như nội dung vụ án và phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
VKSND thành phố Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 BLHS; xử phạt bị cáo D từ 27 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 23/4/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy đối với 0,238 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 vỏ phong bì được niêm phong số 237/KL-KTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương; 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 băng dính màu đen; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với chính lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 23/4/2023, tại khu vực ngõ......, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương Nguyễn Đức D có hành vi cất giấu trái phép 0,274 gam ma túy, loại Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
- Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, bị cáo cất giấu 0,274 gam ma túy, loại Methamphetamine mục đích bán kiếm lời. Nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy", được quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Như vậy, Quyết định truy tố của VKSND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là hoàn toàn đúng.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu năm 2009 bị xử lý hành chính về hành vi "Trộm cắp tài sản"; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
- Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân tốt và đấu tranh phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản có giá trị, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đối với 0,238 gam ma túy, loại Methamphetamine do cơ quan giám định hoàn lại là vật cấm lưu hành, tịch thu cho tiêu hủy; 01 vỏ phong bì được niêm phong số 237/KL-KTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương; 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 băng dính màu đen không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, kiểu dáng JUPITER, BKS 15K1-189.23 là của anh Nguyễn Văn N, việc D sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy, anh N không biết. Do vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh N là phù hợp.
- Trong vụ án này, chưa làm rõ đối tượng bán ma túy cho D nên không có căn cứ xử lý.
- Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Căn cứ các điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D 26 (hai mươi sáu) tháng tù thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 23/4/2023.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với 0,238 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 vỏ phong bì được niêm phong số 237/KL-KTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương; 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 băng dính màu đen; 01 vỏ phong bì niêm phong(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương ngày 26/7/2023).
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm ngày), kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tú |
Bản án số 139/2023/HS- ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG - TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 139/2023/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 23/4/2023, tại khu vực ngõ......, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương Nguyễn Đức D có hành vi cất giấu trái phép 0,274 gam ma túy, loại Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
