|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 139/2024/HS-ST Ngày: 25/06/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hùng Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Chu Thị Tuyết
2/ Ông Phạm Văn Bình
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà My - Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 25/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2024/TLST-HS ngày 03/05/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-HS ngày 09/05/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2024/QĐST – HS ngày 23/05/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Đặng Thành Đ – Sinh ngày: 09/11/1993 tại Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT: Đ, N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nơi ở: Số E, ngõ H đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Đặng Văn H (1959) Con bà: Nguyễn Thị L (đã chết). Bị cáo là con thứ 3 trong gia đình 3 chị em; có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.
Tạm giữ từ ngày 31/12/2023; Tạm giam từ ngày 09/01/2024.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số II – Công an thành phố H.
(Có mặt tại phiên tòa)
2. Họ và tên: Đào Văn H1 – Sinh ngày: 08/01/1995 tại Hải Dương; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT: Thôn A T, N, Hải Dương; Nơi ở: Số F ngõ E Q, N, T, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Đào Văn D (sinh năm: 1971), con bà: Vũ Thị H2 (sinh năm 1972); Bị cáo là con thứ 2 trong gia đình 3 chị em; Vợ: Vũ Thị H3, có 02 con: Con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
Tạm giữ từ ngày 31/12/2023; Tạm giam từ ngày 09/01/2024.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số II – Công an thành phố H.
(Có mặt tại phiên tòa)
1
3. Họ và tên: Hoàng Thị X – Sinh ngày: 01/10/1998 tại Lai Châu; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; HKTT: Bản S, xã S, thành phố L, tỉnh Lai Châu; Nơi ở: Số F ngõ E Q, N, T, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Giáy; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Hoàng Văn V (sinh năm: 1974), con bà: Vùi Thị C (sinh năm: 1975); Bị cáo là con cả trong gia đình 5 chị em; Có 01 con sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.
Tạm giữ từ ngày 31/12/2023; Tạm giam từ ngày 09/01/2024.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số II – Công an thành phố H.
(Có mặt tại phiên tòa)
4. Họ và tên: Châu Thị Tuyết N – Sinh ngày: 08/08/1999 tại Sóc Trăng; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; HKTT: Ấp X, Hồ Đắc K, C, Sóc Trăng; Nơi ở: Số E hẻm D T, quận C, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Châu Lâm T (sinh năm: 1979), con bà: Trần Thị Tuyết D1 (sinh năm 1983); Bị cáo là con cả trong gia đình 2 chị em; Có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.
Tạm giữ từ ngày 31/12/2023; Tạm giam từ ngày 09/01/2024.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số II – Công an thành phố H.
(Có mặt tại phiên tòa)
5. Họ và tên: Đào Thị T1 – Sinh ngày: 27/06/1993 tại Hưng Yên; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; HKTT: Đ D, P, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Đào Văn T2 (sinh năm: 1962), con bà: Trần Thị T3 (sinh năm: 1969); Bị cáo là con thứ 2 trong gia đình 2 chị em; Có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.
Tạm giữ từ ngày 31/12/2023; Tạm giam từ ngày 09/01/2024.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số II – Công an thành phố H.
(Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20h30 ngày 30/12/2023, tổ công tác Công an phường N, quận T, Hà Nội tiến hành kiểm tra hành chính tại số nhà F ngõ E Q, N, T, Hà Nội. Thời điểm kiểm tra, tổ công tác phát hiện có Đặng Thành Đ, Đào Văn H1, Hoàng Thị X, Châu Thị Tuyết N, Đào Thị T1 và Nguyễn Thị Bích H4 (sinh năm: 1998, HKTT: P, S, Hà Nội) đang ở trong phòng tầng 2 và phát hiện trên mặt bàn trong phòng có 01 đĩa sứ chứa chất bột màu trắng, 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền 1000 đồng có dính chất bột màu trắng; 01 thẻ nhựa ngân hàng mang tên Hoàng Thị X có dính chất bột màu trắng; 01 túi nilon dính chất bột màu trắng, 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng, 01 viên nén màu trắng, 01 mảnh viên nén màu trắng, 01 loa, 01 đèn nháy. Các đối tượng đều khai nhận chất bột màu trắng và tinh thể màu trắng là ma túy loại Ketamine, viên nén màu trắng là ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc, loa và đèn nháy để phục vụ việc sử dụng ma túy. Cơ quan Công an lập biên bản thu giữ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở Công an phường N giải quyết.
Cơ quan công an thu giữ của Đặng Thành Đ (Bút lục số 104, 107):
- 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ 1000 đồng có dính chất bột màu trắng;
- 01 túi nilon dính chất bột màu trắng;
- 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng;
- 01 viên nén màu trắng;
- 01 mảnh viên nén màu trắng;
- 01 đĩa sứ bên trên có chứa chất bột màu trắng (đã được cho vào túi nilon phục vụ quá trình điều tra);
- 01 thẻ nhựa ngân hàng mang tên Hoàng Thị X có dính chất bột màu trắng;
- 01 loa màu đen nhãn hiệu LG;
- 01 đèn nháy màu đen;
- 01 điện thoại di dộng Iphone 12 Promax màu xanh, Imei: 353167664642196, 353167664589751, lắp sim số 0866543293.
Thu giữ của Đào Văn H1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax Imei 350813220720652 lắp sim số 0975023884 đã qua sử dụng.
Thu giữ của Châu Thị Tuyết N: 01 điện thoại di động Redmi note 12 màu xanh có Imei1: 869147068840643/00, Imei2: 869147068840650/00 bên trong lắp sim số: 0333001528 và 1.020.000 đồng.
Thu giữ của Hoàng Thị X: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu xanh Imeil: 355794421685933, Imei2: 355794421715706 lắp sim số 0389030444; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu trắng Imei 355852084289722 lắp sim số 0969282737.
Thu giữ của Đào Thị T1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xám Imei1: 351572597542748, Imei2: 351572597723546 và 1.100.000 đồng.
Thu giữ của Nguyễn Thị Bích H4: 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu vàng, Imei: 358686416375271, 358686416405169.
Tại bản Kết luận giám định số 321/9/KLGĐ-PC09 ngày 09/01/2024 của Phòng hình sự kỹ thuật Công an thành phố H kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon (mẫu M1) đều là ma túy loại Ketamine, có tổng khối lượng 1,314gam.
- 01 viên nén màu trắng và 01 mảnh viên nén màu trắng (mẫu M2) đều là ma túy loại MDMA, có tổng khối lượng 0,477gam.
- 01 túi nilon (mẫu M3) có dính ma túy loại MDMA
- Mẫu M4 gồm:
- + Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon (thu trên đĩa sứ) là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,270 gam.
- + 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền mệnh giá 1000 đồng và 01 thẻ nhựa ngân hàng mang tên Hoàng Thị X đều có dính ma túy loại Ketamine.
- + 01 đĩa sứ màu trắng có dính ma túy loại Ketamine và ma túy loại MDMA
Kết quả xét nghiệm nước tiểu:
- + Nguyễn Thị Bích H4 dương tính với ma túy loại Ketamine và ma túy loại Methamphetamine.
- + Hoàng Thị X, Châu Thị Tuyết N, Đào Văn H1 đều dương tính với ma túy loại MDMA và ma túy loại Methamphetamine.
- + Đào Thị T1, Đặng Thành Đ đều dương tính với ma túy loại MDMA, Ketamine và ma túy loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 14h00' ngày 30/12/2023, H1, X, Đ, H4, T1, N cùng nhau ăn tất niên ở quán ăn T6 trên đường N, Đ, Hà Nội. Đến khoảng 17h00' cùng ngày, khi đã ăn uống gần xong thì Đ nói “có gọi đồ về nhà chơi không?” ý rủ mọi người cùng sử dụng ma túy. Tất cả đều hiểu ý Đ là mua ma túy về nhà sử dụng và cả nhóm đều đồng ý. Do trước đây Đ, H1, X, N và T1 đã cùng sử dụng ma túy nên đều hiểu sau khi sử dụng ma túy sẽ chia tiền, H4 lần đầu ăn uống và chơi cùng nhóm trên, không nghe ai nói gì về việc chia tiền sau khi sử dụng ma túy nên không biết.
Sau đó, Đ lên mạng xã hội Telegram nhóm “Những con nghiện hoàn lương” và hỏi mua ma túy của người tên “TA01”. Đ thỏa thuận mua 02 chỉ ma túy loại Ketamine giá 3.500.000 đồng/ 1chỉ và 07 viên ma túy “kẹo” giá 350.000 đồng/một viên và hẹn giao ma túy cho Đ tại ngõ E Q, N, T, Hà Nội. Ăn xong, H1, X, Đ, N về nhà trọ của H1 và X thuê tại địa chỉ số F ngõ E Q, N, T, Hà Nội còn H4 và T1 đi về cất xe rồi đến sau. Khi về phòng trọ của H1 và X, Đ bảo với H1, X và N là mỗi người trong nhóm sẽ góp 1.000.000 đồng để mua ma túy, thừa thiếu như thế nào thì sẽ chia tiền từng người sau, Đ sẽ ứng tiền trước để mua ma túy thì H1, X, N đều đồng ý, nhưng chưa ai đưa tiền cho Đ mà thống nhất sau khi sử dụng ma túy xong, hết bao nhiêu tiền sẽ chia đều và trả cho Đ sau. Khoảng 18h cùng ngày thì “TA01” liên lạc với Đ qua T4 và bảo Đ ra điểm hẹn để lấy ma túy. Đ đi ra đầu ngõ E Q gặp một người nam giới mặc áo G (không rõ nhân thân) và nhận một túi ni lông màu đỏ bên trong có một cái áo, bên trong cái áo có một túi nilon chứa ma túy. Biết là ma túy do Đ đặt mua trước đó của “TA01” nên Đ thanh toán 9.450.000 đồng tiền mặt. Sau khi nhận ma túy, Đ vứt túi ni lông chứa chiếc áo đi cầm 2 túi nilon chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Ketamine và 1 túi nilon chứa 7 viên nén màu trắng là ma túy “kẹo” rồi đi về nhà trọ của H1 và X đồng thời xóa toàn bộ thông tin, tin nhắn của người bán ma túy. Sau khi Đ, H1, X, N lên tầng 2 nhà trọ, Đ lấy đĩa sứ của nhà H1 ra và tự quấn tẩu hút bằng tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, X lấy thẻ ngân hàng đưa cho Đ để Đ “xào ke”. Cả nhóm cùng sử dụng ma túy: N đưa cho H1 một phần viên ma túy “kẹo” và H1 sử dụng luôn, Đ đưa ma túy “kẹo” cho những người khác sử dụng. Khi mọi người đã sử dụng ma túy dạng “Kẹo”, thì Đ đổ ma túy dạng Ketamine ra đĩa sứ và dùng thẻ ngân hàng của X để “xào ke” cho Đ và mọi người sử dụng. H1 bật nhạc qua loa kết nối không dây và bật đèn nháy ở trong phòng để mọi người sử dụng ma túy. Một lúc sau, T1 và H4 đến nhà trọ của H1 và tự đi lên tầng 2. Thấy mọi người đang sử dụng ma túy, T1 sử dụng nửa viên ma túy loại “kẹo” và đưa nửa viên còn lại cho H4 sử dụng. Khoảng 20 giờ 30 cùng ngày, khi cả nhóm đang sử dụng ma túy thì Cơ quan Công an đến kiểm tra, thu giữ tang vật và đưa tất cả về Công an phường N để giải quyết.
Tại cơ quan điều tra Đặng Thành Đ, Đào Văn H1, Hoàng Thị X, Châu Thị Tuyết N, Đào Thị T1 và Nguyễn Thị Bích H4 khai nhận như trên và khai Đ là người khởi xướng rủ mọi người cùng sử dụng ma túy, khi mọi người đều đồng ý mua ma túy về cùng sử dụng thì Đ liên hệ mua và nhận ma túy, ứng tiền để trả tiền mua ma túy, chuẩn bị đĩa, tẩu hút, “xào ke” để Đ và mọi người cùng sử dụng; H1 chuẩn bị loa và đèn trong quá trình sử dụng ma túy; X, N và T1 đồng ý để H1 mua ma túy về sử dụng, biết và đồng ý góp tiền sau khi sử dụng ma túy xong. Trước đó, T1 đã sử dụng ma túy cùng nhóm của H1, Đ, N, X và sau khi sử dụng ma túy cùng nhau chia tiền.
Đối với Nguyễn Thị Bích H4 là lần đầu đi chơi và sử dụng ma túy cùng nhóm của Đ, X, H1, N, T1. Khi H4 về cất xe cùng T1 thì Đ nói chia tiền sau khi sử dụng ma túy nên H4 không biết việc phải đóng góp tiền mua ma túy cũng như không tham gia chuẩn bị công cụ để sử dụng ma túy. Lời khai của H4 phù hợp với lời khai của Đ, H1, X, T1, N, không có căn cứ chứng minh H4 có hành vi đồng phạm với Đ, H1, X, T1, N về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nêu trên. Cơ quan Công an quận T đã Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Thị Bích H4 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, mức phạt tiền 1.500.000 đồng và trả cho H4 tài sản thu giữ là 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu vàng, Imei: 358686416375271, 358686416405169.
Đối với số ma túy thu giữ tại hiện trường vụ án, các Bị cáo khai mua để cùng nhau sử dụng nhưng đang sử dụng thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, bắt giữ, nên Cơ quan điều tra không xử lý các Bị cáo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy đối với số ma túy thu giữ nêu trên.
Đối với “ TA01” là người bán ma túy cho Đ qua mạng xã hội Telegram, Đ không biết số điện thoại, tên tuổi, nhân thân, lai lịch của người này, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với người giao ma túy, Đ khai không biết nhân thân, lai lịch, biển số xe, không nhớ số điện thoại nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với 01 điện thoại di dộng Iphone 12 Promax màu xanh, Imei: 353167664642196, 353167664589751, lắp sim số 0866543293 thu giữ của Đ, Đ khai là tài sản của Đ và ngày 30/12/2023 sử dụng để liên hệ mua ma túy cho mọi người sử dụng.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax Imei 350813220720652 lắp sim số 0975023884 đã qua sử dụng, thu giữ của Đào Văn H1; 01 điện thoại di động Redmi note 12 màu xanh có Imeil: 869147068840643/00, Imei2: 869147068840650/00 bên trong lắp sim số: 0333001528 và 1.020.000 đồng, thu giữ của Châu Thị Tuyết N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu xanh Imeil: 355794421685933, Imei2: 355794421715706 lắp sim số 0389030444; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu trắng Imei 355852084289722 lắp sim số 0969282737, thu giữ của Hoàng Thị X; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xám Imeil: 351572597542748, Imei2: 351572597723546 và 1.100.000 đồng thu giữ của Đào Thị T1, các Bị cáo đều khai là tài sản cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 76/CT-VKS ngày 23/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã truy tố các bị cáo Đặng Thành Đ, Đào Văn H1, Hoàng Thị X, Châu Thị Tuyết N và Đào Thị T1 về tội : Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Đặng Thành Đ, Đào Văn H1, Hoàng Thị X, Châu Thị Tuyết N và Đào Thị T1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và khẳng định không bị oan.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Đặng Thành Đ, bị cáo Đào Văn H1, bị cáo Hoàng Thị X, bị cáo Châu Tuyết N và bị cáo Đào Thị T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội: Tổ chức sử dụng trái pháp chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Xử phạt bị cáo Đặng Thành Đ mức án từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày 31/12/2023.
- + Xử phạt bị cáo Đào Văn H1 mức án từ 7 năm 8 tháng đến 8 năm 2 tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày 31/12/2023.
- + Xử phạt bị cáo Hoàng Thị X mức án từ 7 năm 8 tháng đến 8 năm 2 tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày 31/12/2023.
- + Xử phạt bị cáo Châu Tuyết N mức án từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù, thời hạn tù kể từ ngày 31/12/2023.
- + Xử phạt bị cáo Đào Thị T1 mức án từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù, thời hạn tù kể từ ngày 31/12/2023.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về biện pháp tư pháp:
- 1,314 gam ma túy loại Ketamine và 0,477 gam ma túy loại MDMA là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;
- 01 túi nilon dính chất bột màu trắng; 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng; 01 viên nén màu trắng; 01 mảnh viên nén màu trắng; 01 đĩa sứ bên trên có chứa chất bột màu trắng (đã được cho vào túi nilon phục vụ quá trình điều tra); 01 thẻ nhựa ngân hàng mang tên Hoàng Thị X có dính chất bột màu trắng là tang vật dùng để sử dụng ma túy nên tịch thu tiêu hủy;
- 01 loa màu đen nhãn hiệu LG; 01 đèn nháy màu đen, 1000 đồng làm tẩu hút là tang vật dùng để sử dụng ma túy nên tịch thu xung công;
- 01 điện thoại di dộng Iphone 12 Promax màu xanh, Imei: 353167664642196, 353167664589751 thu giữ của Đặng Thành Đ, qua xác minh là tài sản của Đ và sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu sung công; tịch thu tiêu hủy sim số 0866543293
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax Imei 350813220720652 lắp sim số 0975023884 đã qua sử dụng thu giữ của Đào Văn H1, xác minh là tài sản cá nhân của H1 không sử dụng vào mục đích phạm tội nên hoàn trả lại cho bị cáo.
- 01 điện thoại di động Redmi note 12 màu xanh có Imeil: 869147068840643/00, Imei2: 869147068840650/00 bên trong lắp sim số: 0333001528 đã qua sử dụng và số tiền 1.020.000 đồng thu giữ của Châu Thị Tuyết N, qua xác minh là tài sản cá nhân của N không sử dụng vào mục đích phạm tội nên hoàn trả lại cho bị cáo.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu xanh Imeil: 355794421685933, Imei2: 355794421715706 lắp sim số 0389030444; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu trắng Imei 355852084289722 lắp sim số 0969282737 đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Thị X, qua xác minh là tài sản cá nhân của X không sử dụng vào mục đích phạm tội nên hoàn trả lại cho bị cáo.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xám Imeil: 351572597542748, Imei2: 351572597723546 đã qua sử dụng và số tiền 1.100.000 đồng thu giữ của Đào Thị T1, qua xác minh là tài sản của T1 không sử dụng vào mục đích phạm tội nên hoàn trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Nói lời sau cùng, các bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, VKS truy tố bị cáo là đúng, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Đặng Thành Đ, bị cáo Đào Văn H1, bị cáo Hoàng Thị X, bị cáo Châu Tuyết N và bị cáo Đào Thị T1 tại phiên toà phù hợp với lời khai của tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, bản kết luận giám định, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21h30 ngày 30/12/2023, tại tầng 2 nhà số F ngõ E Q, N, T, Hà Nội, Đặng Thành Đ, Đào Văn H1, Hoàng Thị X, Châu Thị Tuyết N và Đào Thị T1 có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau và cho Nguyễn Thị Bích H4 cùng sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường N phối hợp cùng Công an phường K bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật. Đ là người khởi xướng rủ mọi người sử dụng ma túy, mua ma túy và chuẩn bị công cụ để sử dụng ma túy; H1 chuẩn bị loa và đèn trong quá trình sử dụng ma túy; X, T1 và N biết và đồng ý góp tiền mua ma túy để cùng sử dụng.
Hành vi của các bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội: Tổ chức sử dụng trái pháp chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt chính:
Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý của Nhà nước và xã hội nên phải xử lý nghiêm khắc. Các bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi nhưng không chịu học tập, lao động và tu dưỡng bản thân chỉ vì ham muốn cá nhân nên đã thực hiện các hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Đây là vụ án đồng phạm, các bị cáo đã có sự bàn bạc, rủ rê, chuẩn bị trước. Tuy nhiên để đánh giá trách nhiệm hình sự của các bị cáo Hội đồng xét xử xem xét đến hành vi, nhân thân của từng bị cáo để cá thể hóa trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Bị cáo Đặng Thành Đ có vai trò đầu vụ là người chuẩn bị ma túy, công cụ để thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất. Bị cáo H1 và X cung cấp địa điểm tổ chức sử dụng, Xuyến cung cấp thẻ, H1 chuẩn bị loa đèn nên mức hình phạt thấp hơn bị cáo Đ nhưng cao hơn bị cáo N và T1.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, bản thân các bị cáo là người nghiện ma túy vì vậy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình, HĐXX cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo vì có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[6] Về biện pháp tư pháp:
- 1,314 gam ma túy loại Ketamine và 0,477 gam ma túy loại MDMA là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;
- 01 túi nilon dính chất bột màu trắng; 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng; 01 viên nén màu trắng; 01 mảnh viên nén màu trắng; 01 đĩa sứ bên trên có chứa chất bột màu trắng (đã được cho vào túi nilon phục vụ quá trình điều tra); 01 thẻ nhựa ngân hàng mang tên Hoàng Thị X có dính chất bột màu trắng là tang vật dung để sử dụng ma túy nên tịch thu tiêu hủy;
- 01 loa màu đen nhãn hiệu LG; 01 đèn nháy màu đen và 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ 1000 đồng có dính chất bột màu trắng là tang vật dung để sử dụng ma túy nên tịch thu xung công;
- 01 điện thoại di dộng Iphone 12 Promax màu xanh, Imei: 353167664642196, 353167664589751 thu giữ của Đặng Thành Đ, qua xác minh là tài sản của Đ và sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu sung công; tịch thu tiêu hủy sim số 0866543293
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax Imei 350813220720652 lắp sim số 0975023884 đã qua sử dụng thu giữ của Đào Văn H1, xác minh là tài sản cá nhân của H1 không sử dụng vào mục đích phạm tội nên hoàn trả lại cho bị cáo.
- 01 điện thoại di động Redmi note 12 màu xanh có Imeil: 869147068840643/00, Imei2: 869147068840650/00 bên trong lắp sim số: 0333001528 đã qua sử dụng và số tiền 1.020.000 đồng thu giữ của Châu Thị Tuyết N, qua xác minh là tài sản cá nhân của N không sử dụng vào mục đích phạm tội nên hoàn trả lại cho bị cáo.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu xanh Imeil: 355794421685933, Imei2: 355794421715706 lắp sim số 0389030444; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu trắng Imei 355852084289722 lắp sim số 0969282737 đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Thị X, qua xác minh là tài sản cá nhân của X không sử dụng vào mục đích phạm tội nên hoàn trả lại cho bị cáo.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xám Imeil: 351572597542748, Imei2: 351572597723546 đã qua sử dụng và số tiền 1.100.000 đồng thu giữ của Đào Thị T1, qua xác minh là tài sản của T1 không sử dụng vào mục đích phạm tội nên hoàn trả lại cho bị cáo.
[7] Những vấn đề khác:
- Đối với đối tượng tên “TA01” mà Đ giao dịch ma túy. Do Đ không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể, số điện thoại sau khi giao dịch đã thuê bao, do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.
- Đối với Nguyễn Thị Bích H4 là người được gọi đến sử dụng, không phải đóng góp hay chuẩn bị bất cứ gì để được sử dụng ma túy. Công an quận T đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Thị Bích H4 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, số tiền xử phạt là 1.500.000 đồng.
Các bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đặng Thành Đ, Đào Văn H1, Hoàng Thị X, Châu Thị Tuyết N và Đào Thị T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Đặng Thành Đ 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2023.
- Xử phạt: Bị cáo Đào Văn H1 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2023.
- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị X 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2023.
- Xử phạt: Bị cáo Châu Thị Tuyết N 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2023.
- Xử phạt: Bị cáo Đào Thị T1 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2023.
- Về biện pháp tư pháp:
- Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín, bên ngoài có chữ ký của bị cáo Đặng Thành Đ, bị cáo Đào Văn H1, bị cáo Hoàng Thị X, bị cáo Châu Thị Tuyết N và bị cáo Đào Thị T1, Nguyễn Thị Bích H4, giám định viên Trần Ngọc C1, cán bộ công an phường N – Trần Đình S1 và đóng dấu niêm phong của C2 vào mép dán niêm phong:
- Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon (mẫu M1) đều là ma túy loại Ketamine, có tổng khối lượng 1,314gam.
- 01 viên nén màu trắng và 01 mảnh viên nén màu trắng (mẫu M2) đều là ma túy loại MDMA, có tổng khối lượng 0,477gam.
- 01 túi nilon (mẫu M3) có dính ma túy loại MDMA
- Mẫu M4 gồm:
- + Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon (thu trên đĩa sứ) là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,270 gam.
- + 01 thẻ nhựa ngân hàng mang tên Hoàng Thị X đều có dính ma túy loại Ketamine.
- + 01 đĩa sứ màu trắng có dính ma túy loại Ketamine và ma túy loại MDMA
- Tịch thu xung công Nhà nước 01 loa màu đen nhãn hiệu LG; 01 đèn nháy màu đen; 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền mệnh giá 1000 đồng.
- Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ nhựa ngân hàng mang tên Hoàng Thị X có dính chất bột màu trắng;
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 Iphone 12 Promax màu xanh, Imei: 353167664642196, 353167664589751, thu giữ của Đặng Thành Đ. Tịch thu tiêu hủy sim số 0866543293.
- Hoàn trả:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax Imei 350813220720652 lắp sim số 0975023884 đã qua sử dụng cho Đào Văn H1;
- + 01 điện thoại di động Redmi note 12 màu xanh có Imeil: 869147068840643/00, Imei2: 869147068840650/00 bên trong lắp sim số: 0333001528 đã qua sử dụng và số tiền 1.020.000 đồng cho Châu Thị Tuyết N;
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu xanh Imeil: 355794421685933, Imei2: 355794421715706 lắp sim số 0389030444; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu trắng Imei 355852084289722 lắp sim số 0969282737 đã qua sử dụng cho Hoàng Thị X;
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xám Imeil: 351572597542748, Imei2: 351572597723546 đã qua sử dụng và số tiền 1.100.000 đồng cho Đào Thị T1.
Những vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân – Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/05/2024 và ủy nhiệm chi của Công an quận T, thành phố Hà Nội ngày 07/05/2024.
- Về án phí:
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo:
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hùng Lâm |
Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 139/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt: Bị cáo Đặng Thành Đ 08 (T5) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2023. Xử phạt: Bị cáo Đào Văn H1 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2023. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị X 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2023. Xử phạt: Bị cáo Châu Thị Tuyết N 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2023. Xử phạt: Bị cáo Đào Thị T1 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2023.
