TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 139/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25-4-2024 Về việc tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: | |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Tuấn. |
Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Phan Thanh Minh. Bà Nguyễn Thị Nở. |
Thư ký phiên tòa: | Bà Hồ Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. |
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 333/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 1933/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hàn Tiểu S, sinh năm 1962; địa chỉ: Số I đường N, Phường E, Quận E Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Hang Phuoc T, sinh năm 1965; địa chỉ: D Rue D, D Saint Jean de B, L, Cộng hòa P.
(Các đương sự vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn bà Hàn Tiểu S trình bày:
Bà và ông Hang Phuoc T quen biết nhau từ nhỏ trước khi ông Hang Phuoc T sang Pháp định cư. Sau này, khi bà ly hôn chồng cũ, ông Hang Phuoc T an ủi và giúp bà vượt qua giai đoạn khó khăn, giữa hai người nảy sinh tình cảm. Sau nhiều năm quen biết và tìm hiểu nhau, bà và ông Hang Phuoc T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 61/2022 ngày 05 tháng 8 năm 2022. Do khoảng cách về địa lý nên hai người không chung sống với nhau, dự định đến năm 2026 ông Hang Phuoc T về hưu sẽ về Việt Nam chung sống cùng bà. Tuy nhiên, do thiếu sự quan tâm, chăm sóc từ chồng, bà cảm nhận ông Hang Phuoc T không còn chung thủy, bà không còn muốn tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân hiện tại nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hang Phuoc T.
Về con chung: Bà và ông Hang Phuoc T không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông Hang Phuoc T không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2] Tại Bản tự khai được Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Cộng hòa P chứng thực ngày 13 tháng 02 năm 2024, bị đơn ông Hang Phuoc T trình bày:
Ông và bà Hàn Tiểu S biết nhau từ nhỏ. Năm 1982 ông xuất cảnh sang Pháp. Năm 2017 ông và bà S liên hệ lại với nhau thông qua mạng xã hội và cùng bà S vượt qua biến cố gia đình. Trong khoảng thời gian quen biết, tìm hiểu nhau, ông về Việt Nam thăm bà S hàng năm từ 01 đến 02 lần, mỗi lần khoảng 02 đến 04 tuần. Ngày 05 tháng 8 năm 2022, ông và bà S đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, Giấy chứng nhận kết hôn số 61/2022.
Mối quan hệ hôn nhân giữa ông và bà S khiến ông mệt mỏi, do khoảng cách về địa lý hai người không thể chung sống với nhau, ông đã có tình cảm với người phụ nữ khác từ đầu năm 2023 nên không liên hệ với bà S từ tháng 7 năm 2023. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, ông đồng ý ly hôn bà Hàn Tiểu S.
Về con chung: Ông và bà Hàn Tiểu S không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông và bà Hàn Tiểu S không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra chứng cứ công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ giấy chứng nhận kết hôn cùng lời trình bày của các đương sự tại bản khai, có cơ sở để xác định đây là vụ án tranh chấp về ly hôn. Bị đơn trong vụ án là ông Hang Phuoc T hiện đang cư trú tại Cộng hòa P; nguyên đơn bà Hàn Tiểu S cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Điểm c Khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn đều đã có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Xét thấy, yêu cầu và ý kiến của đương sự đã được thể hiện rõ trong bản khai, sự vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.
[1.3] Trong vụ án này, các đương sự đã tự giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án; bị đơn trong vụ án là ông Hang Phuoc T hiện đang định cư ở nước ngoài nhưng đã có bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; các đương sự cùng thừa nhận có mâu thuẫn và không thực tế chung sống, Tòa án không tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp, không thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa.
[2] Về nội dung:
Căn cứ bản tự khai của các đương sự và Giấy chứng nhận kết hôn số 61/2022 ngày 05 tháng 8 năm 2022 do Ủy ban nhân dân Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, có cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn được xác lập trên cơ sở tự nguyện là hợp pháp.
Theo trình bày của nguyên đơn bà Hàn Tiểu S và bị đơn ông Hang Phuoc T thì vợ chồng ông bà không có thời gian thực tế chung sống với nhau, do cuộc sống mỗi người một nơi nên sau khi kết hôn giữa hai người chỉ liên hệ với nhau qua mạng xã hội. Trong khoảng thời gian xa cách, ông Hang Phuoc T không chung thủy, bà Hàn Tiểu S khởi kiện yêu cầu được ly hôn, ông Hang Phuoc T cũng đồng ý.
Xét thấy, bà Hàn Tiểu S và ông Hang Phuoc T cùng thừa nhận vợ chồng không chung sống với nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không ai còn ý định hàn gắn, đoàn tụ gia đình. Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho bà Hàn Tiểu S được ly hôn ông Hang Phuoc T.
Về con chung: Bà Hàn Tiểu S và ông Hang Phuoc T cùng trình bày giữa hai người không có con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng: Bà Hàn Tiểu S và ông Hang Phuoc T cùng trình bày giữa hai người không có nợ chung, tài sản chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Hàn Tiểu S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Khoản 2 Điều 38, Điểm c Khoản 1 Điều 40, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các điều 19, 56, 121 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
I. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hàn Tiểu S:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hàn Tiểu S được ly hôn ông Hang Phuoc T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 61/2022 do Ủy ban nhân dân Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05 tháng 8 năm 2022 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Các đương sự trình bày giữa hai người không có con chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
3. Về quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
II. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Hàn Tiểu S phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đương sự đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2023/0001044 ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, đương sự đã thi hành xong án phí sơ thẩm.
III. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Hàn Tiểu S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; bị đơn ông Hang Phuoc T cư trú ở nước ngoài không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tuấn |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN | HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Thị Nở | Phan Thanh Minh | Nguyễn Văn Tuấn |
Bản án số 139/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 139/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn bà Hàn Tiểu S khởi kiện bị đơn ông Hang Phuoc T về việc Ly hôn do không Hang Phuoc T không còn chung thủy, bà không còn muốn tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân hiện tại nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hang Phuoc T
