Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA LÂM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:139/2024/HNGĐ-ST

Ngày 25/4/2024

“V/v: Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cồ Khắc Đam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Long
Ông Nguyễn Viết Tuấn

Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Đình Tuấn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Hiếu, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 55/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024, về việc: Tranh chấp ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXX-ST ngày 09 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Đinh Công Đ, sinh năm 1963

(tức ông Đinh Văn Đ1, sinh năm 1964).

Nơi thường trú: Tổ dân phố A, thị trấn T, huyện G, Hà Nội. Nơi ở hiện tại : Số H - 82, tổ dân phố A, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội.

* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967.

Nơi cư trú: Số nhà F, ngõ D, khu A, ngách B khu tập thể viện nghiên cứu rau quả, tổ dân phố A, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội.

(Ông Đ1 và bà H có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và những lời khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Đinh Công Đ (tức ông Đinh Văn Đ1) trình bày:

Về tình cảm: Tôi và Nguyễn Thị H có tìm hiểu khoảng 03 tháng rồi kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi sinh sống tại phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng đến tháng 7/2011 thì vợ chồng tôi cùng các con chuyển về sinh sống tại khu A, tập thể Viện nghiên cứu rau quả, tổ dân phố A, thị trấn T, huyện G, TP Hà Nội từ đó cho đến nay. Vợ chồng tôi chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính cách không hợp nhau, vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng tôi thường xuyên xảy ra cãi nhau. Sau khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng tôi cũng ngồi lại nói chuyện để tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng mâu thuẫn không được cải thiện. Đến tháng 10/2019 do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên tôi có nộp đơn xin ly hôn bà H tại Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm nhưng do trong quá trình giải quyết bà H đang đi du lịch nước ngoài nên tôi đã rút đơn về để cho vợ chồng có thêm thời gian để hàn gắn tình cảm. Từ khi tôi rút đơn về thì vợ chồng tôi vẫn không có tiếng nói chung, mâu thuẫn vợ chồng vẫn thường xuyên xảy ra. Từ tháng 10/2019 thì vợ chồng tôi sống ly thân không chung sống với nhau. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng tôi không thể đoàn tụ với nhau, tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn bà Nguyễn Thị H

Về con chung: Tôi và bà Nguyễn Thị H có 02 con chung tên Đinh Công T, sinh ngày 19/7/1992 và Đinh Thị Thanh T1, sinh ngày 17/3/1995. Hiện các con của tôi đã trưởng thành, tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản chung và công nợ chung vợ chồng: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Tôi tự nguyện chịu án phí theo quy định pháp luật.

* Bị đơn bà Nguyễn Thi H1 trình bày như sau:

- Về tình cảm: Tôi và ông Đinh Công Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 02/12/1991. Đến năm 2011 thì vợ chồng tôi chuyển về sinh sống tại khu A, tập thể Viện nghiên cứu rau quả, tổ dân phố A, thị trấn T, huyện G, TP Hà Nội. Vợ chồng tôi chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Đ có người phụ nữ khác ở bên ngoài và về mang tiền của tôi cho người phụ nữ đó. Từ đó, vợ chồng tôi không nói chuyện và không quan tâm đến nhau. Tôi và ông Đ cũng không tìm biện pháp nào để cải thiện tình trạng mâu thuẫn. Đến cuối năm 2019, ông Đ có làm đơn xin ly hôn tôi tại Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm. Trong quá trình giải quyết do Tòa án đã hòa giải nên ông Đ đã rút đơn ly hôn. Sau khi rút đơn, vợ chồng tôi không chung sống với nhau từ năm 2019 đến nay. Vợ chồng tôi cũng không tìm biện pháp hay trao đổi với nhau để giải quyết mâu thuẫn. Ông Đ nói chuyện với gia đình ông Đ mâu thuẫn dân đến việc ly hôn là do tôi, vì vậy tôi mới không đồng ý ly hôn. Việc mâu thuẫn vợ chồng nguyên nhân là do ông Đ mà ra. Nay được biết ông Đ tiếp tục nộp đơn xin ly hôn tôi tại Tòa án, quan điểm của tôi là tình cảm vợ chồng xác định không còn, tôi không đồng ý ly hôn vì ông Đ đổ lỗi nguyên nhân mâu thuẫn là do tôi mà ra.

- Về con chung: Tôi và ông Đ có 02 con chung là Đinh Công T, sinh ngày 19/7/1992 và Đinh Thị Thanh T1, sinh ngày 17/3/1995. Hiện cháu T và cháu T2 đã trưởng thành nên tôi không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung và công nợ chung vợ chồng: Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa: Ông Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và những lời khai ông đã trình bày ở Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Bà H1 xác định mâu thuẫn vợ chồng từ ông Đ mà ra. Ông Đ có quan hệ với người phụ nữ khác, lấy tiền của gia đình của gia đình đi cho người phụ nữ đó và làm ảnh hưởng để kinh tế của gia đình. Từ năm 2019, vợ chồng không chung sống với nhau, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Đồng thời, vợ chồng cũng không tìm biện pháp nào để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng. Bà H1 cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể về đoàn tụ chung sống với nhau được nữa. Sau khi trình bày xong, bà H1 xin được ra về và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát huyện G, thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử chấp hành và thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Các đương sự: Nguyên đơn chấp hành tốt các quy định của pháp luật và bị đơn chưa chấp hành tốt các quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 19, 56, 59 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị hội đồng xét xử:

Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của ông Đinh Công Đ(tức ông Đinh Văn Đ1) vì mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ. Cho ông Đinh Công Đ(tức ông Đinh Văn Đ1) được ly hôn bà Nguyễn Thị H.

Về con chung: Các đương sự cùng xác nhận có 02 con chung là Đinh Công T, sinh ngày 19/7/1992 và Đinh Thị Thanh T1, sinh ngày 17/3/1995. Hiện tại các con chung đã trưởng thành và đã lập gia đình nên không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Áp dụng án phí theo quy định tại Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền: Căn cứ vào căn cước công dân của của các đương sự thể hiện: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967 có đăng ký nơi thường trú tại tổ dân phố A, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội và hiện nay đang thường xuyên sinh sống tại nơi thường trú. Vì vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Đinh Công Đ, sinh năm 1963(tức ông Đinh Văn Đ1, sinh năm 1964) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 02/12/1991 tại phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

Sau khi kết hôn vợ chồng ông bà sinh sống tại thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng đến năm 2011 thì chuyển về sinh sống tại khu A, tập thể Viện nghiên cứu rau quả, tổ dân phố A, thị trấn T, huyện G, TP Hà Nội cho đến nay.

Vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm sống. Mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã cố gắng hòa giải, khắc phục mâu thuẫn nhưng không đạt được kết quả gì. Bà H cũng thừa nhận việc vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Đ1 có người phụ nữ khác ở bên ngoài và về mang tiền của tôi cho người phụ nữ đó. Từ đó, vợ chồng ông bà không nói chuyện và không quan tâm đến nhau. Đến cuối năm 2019, ông Đ1 có làm đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm. Trong quá trình giải quyết do Tòa án đã hòa giải nên ông Đ1 đã rút đơn ly hôn. Sau đó, vợ chồng ông bà cũng không tìm biện pháp hay trao đổi với nhau để giải quyết mâu thuẫn. Hiện tại, mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai, việc ai người đó làm, cuộc sống của ai người đó lo. Ông Đ1 và bà H cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn và không thể về đoàn tụ chung sống với nhau được nữa. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng ông Đ1 và bà H đã căng thẳng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu xin được ly hôn của ông Đ1 là chính đáng, phù hợp với quy định của Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình nên được chấp nhận.

[3]. Về con chung: Ông Đ1 và bà H có 02 con chung là Đinh Công T, sinh ngày 19/7/1992 và Đinh Thị Thanh T1, sinh ngày 17/3/1995. Hiện tại các con chung đã trưởng thành và đã lập gia đình nên HĐXX không xem xét.

[4]. Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Ông Đ1 và bà H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không xem xét.

[5]. Về án phí: Ông Đ1 phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí đối với số tiền cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội .

[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp của pháp luật.

[7]. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tại phiên tòa phù hợp với quy định của pháp luật và kết quả nghị án của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ: Khoản1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ: điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

[1]. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Đinh Công Đ (tức Đinh Văn Đ1). Cho ông Đinh Công Đ, sinh năm 1963 (tức Đinh Văn Đ1, sinh năm 1964) được ly hôn với bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967.

[2]. Về con chung: Ông Đ1 và bà H có 02 con chung là Đinh Công T, sinh ngày 19/7/1992 và Đinh Thị Thanh T1, sinh ngày 17/3/1995. Hiện tại các con chung đã trưởng thành và đã lập gia đình nên HĐXX không xem xét.

[3]. Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Ông Đ1 và Bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về án phí: Ông Đinh Công Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận ông Đ đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2020/0003985 ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Xác nhận ông Đinh Công Đ đã nộp đủ tiền án phí.

[5]. Về quyền kháng cáo: Ông Đinh Công Đ (tức ông Đinh Văn Đ1) có quyền kháng cảo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND H. Gia Lâm;
  • - THADS H. Gia Lâm;
  • - TAND TP Hà Nội;
  • - UBND phường 1,
  • TP Đ, tỉnh Lâm Đông;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cồ Khắc Đam

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 139/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà H tại phiên toà xin ra về
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger