Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 139/2024/HS - ST

Ngày 24/07/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Minh Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Vĩ
  2. Ông Dương Văn Xuyên

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Ông Đỗ Xuân Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 24/07/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2024/TLST-HS ngày 25/04/2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 06 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đặng Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1957, tại Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: X, phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 7/10; Họ và tên cha: Đặng Văn H (đã chết); Họ và tên mẹ: Dương Thị U (đã chết); Vợ: Ngô Thị T1, sinh 1954 (đã ly hôn); Con: 03 con (con lớn đã chết, con nhỏ sinh 1982); Theo danh bản, chỉ bản số 878 lập ngày 26/12/2023 tại Công an huyện S thì bị cáo có nhân thân như sau:

  • + Bản án số 08/ST-HS ngày 25/02/1995 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phú xử phạt bị cáo T 39 tháng tù về các tội “Tổ chức dùng chất ma túy; Trộm cắp tài sản công dân và Chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; bị cáo T chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/4/1997; xác minh kết quả thi hành án dân sự không có thông tin lưu trong hồ sơ sổ sách.
  • + Bản án số 52/HSPT ngày 27/8/2001 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội: Chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có tại bản án hình sự phúc thẩm số 52, bị can đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/8/2002 (đã được xóa án tích).
  • + Ngày 22/7/2005, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 36 tháng tù về tội Đánh bạc tại bản án hình sự phúc thẩm số 59, bị can đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/4/2008 (đã được xóa án tích);
  • + Ngày 02/5/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị can đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/5/2019 (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ và tạm giam từ ngày 22/12/2023.

2. Họ và tên: Đinh Quang L; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1972, tại Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: X, phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa:10/12; Họ và tên cha: Đinh Quang L1, sinh năm 1944; Họ và tên mẹ: Vũ Thị L2, sinh năm 1949; Con: 01 con sinh 1998; Theo danh bản, chỉ bản số 881 lập ngày 26/12/2023 tại Công an huyện S thì bị cáo có nhân thân như sau:

  • + Ngày 06/10/2000, bị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án hình sự sơ thẩm số 67, bị can đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/10/2002 (đã được xóa án tích);
  • + Ngày 16/9/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án hình sự sơ thẩm số 51, bị can đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/5/2005 (đã được xóa án tích);
  • + Ngày 23/4/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án hình sự sơ thẩm số 29, bị can đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/6/2009 (đã được xóa án tích);
  • + ngày 21/9/2010, bị Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án hình sự sơ thẩm số 68, bị can đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/12/2012 (đã được xóa án tích);
  • + ngày 30/12/2013, Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xử 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án hình sự sơ thẩm số 88, bị can đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/10/2016 (đã được xóa án tích);
  • + Ngày 01/6/2021, bị Tòa án nhân dân TP Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án hình sự sơ thẩm số 63, bị can đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2023 (chưa được xóa án tích);

Bị cáo bị bắt, tạm giữ và tạm giam từ ngày 22/12/2023.

3. Họ và tên: Lê Đức V; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1960, tại Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa:10/12; Họ và tên cha: Lê Văn V1 (đã chết); Họ và tên mẹ: Đào Thị S (đã chết); Vợ: Lê Thị T2, sinh 1963; Con: 02 con (con lớn sinh 1985, con nhỏ sinh 1987; Theo danh bản, chỉ bản số 880 lập ngày 26/12/2023 tại Công an huyện S thì bị cáo không có tiên án, tiền sự.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ và tạm giam từ ngày 22/12/2023 đến nay.

1

2

Người bào chữa cho bị cáo Lê Đức V: Luật sư Đỗ Văn H1 – Công ty L3 và cộng sự, Đoàn Luật sư thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 11h 10' ngày 21/12/2023, tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về ma túy - Công an huyện S đang làm nhiệm vụ tại thôn B, xã T, huyện S đã phát hiện Đinh Quang L và Đặng Văn T đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade - BKS: 21B1 - 87406 có biểu hiện nghi vấn. Qua tiến hành kiểm tra phát hiện, thu giữ của T 01 gói giấy nhỏ bên trong có 01 túi nilon chứa bột màu trắng, T khai nhận bột màu trắng trong túi nilon là ma túy loại heroin; tạm giữ của L 01 gói giấy chứa bột màu đỏ và 01 xe mô tô- BKS: 21B1 - 87406.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 08h 15' ngày 21/12/2023, Đặng Văn T dùng điện thoại di động gọi cho Đinh Quang L bảo đến chở đi có việc. Lẫm đồng ý rồi điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade - BKS: 21B1- 87406 đi đến đón T. Trên đường đi, T bảo L chở đến nhà Lê Đức V (sinh năm 1960; trú tại: TDP T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) để mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, L dừng xe đứng đợi ở cổng, còn T đi vào trong sân (cách chỗ L khoảng 03m) gặp và hỏi mua của V 3.800.000₫ ma túy. V đưa cho T 01 gói giấy bên trong chứa túi nilon đựng ma túy loại “Heroin”, T cầm gói ma túy cất vào lòng bàn tay phải rồi quay ra chỗ L đứng chờ. Lẫm biết T đã mua được ma túy, nên điều khiển xe mô tô chở T đi theo tuyến đường 35 để về nhà. Khi đi đến khu vực thuộc địa phận thôn B, xã T, huyện S, thành H thì bị cơ quan Công an huyện S kiểm tra, phát hiện bắt giữ người cùng vật chứng. Tiến hành xét nghiệm nước tiểu của Đặng Văn T, Đinh Quang L và Lê Đức V đều có kết quả phản ứng dương tính với ma túy loại Heroin.

* Vật chứng thu giữ: Ngày 21/12/2023, cơ quan điều tra đã tạm giữ của Đặng Văn T 01 túi nilon chứa bột màu trắng; thu giữ của Đinh Quang L 01 gói giấy chứa bột màu đỏ và 01 xe mô tô - BKS: 21B1 – 87406.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Đức V tại T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, đã tạm giữ số tiền là 10.500.000đ; 01 điện thoại di động, 03 mảnh giấy màu bạc và 03 mảnh giấy hình vuông; 01 lọ nhựa màu trắng hình trụ; 15 gói giấy bên trong các gói giấy chứa bột màu trắng là ma túy loại “Heroin” có tổng khối lượng 1,859 gam.

Tại Kết luận giám định số 8618 của Phòng K, Công an T4 kết luận:

  • + Bột màu trắng trong 01 túi nilon tạm giữ của T có khối lượng 3,778 gam là ma túy loại “Heroin”.
  • + Bột màu đỏ trong 01 gói giấy tạm giữ của L có khối lượng 0,014 gam là ma túy loại “Methamphethamine”.
  • + Bột màu trắng trong 01 gói giấy tạm giữ của V có khối lượng 0,079 gam là ma túy loại “Heroin".
  • + Bột màu trắng trong 14 gói giấy tạm giữ của V có khối lượng 1,780 gam.

Quá trình giám định, Cơ quan giám định đã lấy 0,009 gam ma túy loại Methamphetamine và 0, 204 gam chất ma túy loại Heroin làm mẫu giám định, phần còn lại 0,005 gam chất ma túy loại Methamphetamine và 5,433 gam ma túy loại Heroin được niêm phong và hoàn trả cơ quan điều tra để xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với số tiền 10.500.000đ thu giữ của V, quá trình điều tra xác định trong đó có 3.800.000đ là tiền V bán ma túy cho T; 6.700.000đ là của chị Lê Thị T2 (vợ của V) gửi cất giữ. Sau khi điều tra làm rõ, cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T2 số tiền trên.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Đinh Quang L. Qua trình điều tra L khai mua của 01 người nam giới không quen biết ở khu vực T, P, tỉnh Thái Nguyên ngày 17/12/2023 với giá 50.000đ để sử dụng. Quá trình điều tra do không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xem xét xử lý.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Lê Đức V: V khai mua của 01 người nữ giới không quen biết ở khu vực K, phường T, P, tỉnh Thái Nguyên với giá 3.400.000đ được một túi. Sau đó, V đem về chia thành 15 gói nhỏ, trong đó 14 gói giấu vào hộp nhựa là để bán cho đối tượng nghiện kiếm lời, còn 01 gói để mặt bàn tại phòng ngủ. Số ma túy còn lại trong túi nilon bán cho T với giá 3.800.000đ.

Tại bản Cáo trạng số 61/CT-VKS ngày 24/04/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã:

  • + Truy tố bị cáo Lê Đức V về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:
  • “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm tù.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    .....;

    i) Heroin....có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam.”;

  • + Truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:
  • “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù:

    .....;

    c) Heroin..... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam";

  • + Truy tố bị cáo Đinh Quang L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:
  • “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù:

    .....;

    i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”.

3

4

Tại phiên toà:

Các bị cáo Đặng văn T3, Đinh Quang L và Lê Đức V đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Đức V trình bày luận cứ bảo vệ. Bị cáo V lúc trẻ tuổi có tham gia phong trào thanh niên xung phong; hiện nay tuổi đã cao và đang bị nhiều bệnh tật; gia đình bị cáo có công với cách mạng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hết các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cho bị cáo V được hưởng mức án nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng Đ i Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo cáo Lê Đức V từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù.
  • - Áp dụng Đ i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đinh Quang L từ 3 năm 6 tháng đến 4 năm tù.
  • - Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Văn T từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù.
  • - Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của các bị cáo; Trả lại cho bị cáo V 01 điện thoại di động; Tịch thu sung công các sản thu giữ còn lại của các bị cáo.
  • - Về án phí: Bị cáo Đặng văn T3 và Lê Đức V là người cao tuổi nên được miễn án phí; Bị cáo Đinh Quang L phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện S, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra vụ án nên có căn cứ xác định: Khoảng 11h10' ngày 21/12/2023, tại thôn B, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội. Đặng Văn T và Đinh Quang L đã có hành vi tàng trữ 3,778 gam ma túy loại “Heroin”; ngoài ra Lẫm có hành vi tàng trữ 0,014 gam ma túy loại “Methaphetamine” nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện S phát hiện bắt giữ.

Lê Đức V, đã có hành vi bán trái phép 3,778 gam ma túy loại Heroin cho Đặng Văn T tại tại khu vực tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để thu lời bất chính 3.800.000đ. Ngoài ra, cơ quan điều tra còn thu giữ tại nơi ở của Lê Đức V 1,859 gam ma túy loại Heroin, V khai số ma túy trên nhằm mục đích để bán kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy thu được của V là 5,637 gam chất ma túy loại Heroin.

Hành vi của bị cáo Lê Đức V đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Hành vi của bị cáo Đinh Quang L đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Hành vi của bị cáo Đặng Văn T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy do đó cần phải được xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự - tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nữa mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • * Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đinh Quang L bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • * Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
  • Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

    Đối với bị cáo Lê Đức V: Từ năm 1978 đến năm 1980 tham gia phong trào thanh niên xung phong mở đường tại Y, chợ Đ1, B; Gia đình bị cáo có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 và Điêug 251 của Bộ luật Hình sự.

[5] Xử lý vật chứng:

Đối với số ma túy thu giữ của các bị cáo cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 21B1-87406 tạm giữ của bị cáo Đinh Quang L: Tra cứu BKS 21B1 – 87406 tại phòng PC02 Công an thành phố T4 kết quả không có trong cơ sở dữ liệu xe mô tô vật chứng và chủ đăng ký xe tên Nguyễn Văn N (sinh 1990; trú tại: TDP D, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Yên Bái).

Anh N khai: Năm 2019 có mua 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 21B1 - 87406. Thời gian sau, Nam tháo BKS và đem chiếc xe trên đi cầm cố cho 01 nam giới tên H1 ở thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc lấy 10.000.000đ, đến nay chưa lấy lại xe. Sau đó, Nam để BKS trên ở nhà anh Đinh Quang N1 (em trai của L - sinh 1976; trú tại: Phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc). N không biết việc BKS xe trên được gắn vào xe máy nhãn hiệu Honda Airblade và không có yêu cầu, đề nghị gì về BKS xe trên.

5

6

Anh Đinh Quang N1 khai: Anh có quen biết N do trước đây làm việc cùng nhau, tuy nhiên N1 không không sử dụng BKS trên.

Do nguồn gốc chiếc xe máy trên chưa được làm rõ nên cần trả lại cho Cơ quan điều tra Công an huyện S giải quyết theo thẩm quyền.

[6] Về án phí: Bị cáo Đinh Quang L bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm; Bị cáo cáo Lê Đức V và bị cáo Đặng Văn T là người già nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Đinh Quang L và bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    1. Áp dụng Đ i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao:

      Xử phạt bị cáo Đinh Quang L 48 (bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.

    2. Áp dụng Đ c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao:

      Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.

  2. Tuyên bố bị cáo Lê Đức V phạm tội về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

    Áp dụng Đ i Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao:

    Xử phạt bị cáo Lê Đức V 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.

  3. Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
    • + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phông, cán bộ C; 03 mảnh giấy mầu bạc; 03 mảnh giấy hình vuông; 01 lọ hình trụ mầu trắng.
    • + Tịch thu sung ngân sách nhà nước 3.800.000 đồng và 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung, số IMEI 353220822627946.
    • + Trả lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S xử lý theo thẩm quyền: 01 xe máy BKS 21B1-87406.
    • (Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 14/05/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án huyện Sóc Sơn; Ủy nhiệm chi chuyển khoản tiền mặt tại kho bạc ngày 15/05/2024).

    • + Buộc bị cáo Đinh Quang L phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

7

8

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Sóc Sơn;
  • - Công an huyện Sóc Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Ngô Minh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/HS - ST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 139/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đặng Văn Thăng và đồng phạm phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger