|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 139/2024/HS-ST
Ngày: 24/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Quản Văn Tiến
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Lương
Ông Nguyễn Phan Anh
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Ông Tạ Hà Giang- Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/HSST ngày 15 tháng 4 năm 2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2024/QĐXX-HS ngày 10/5/2024, đối với các bị cáo:
- Trần Mạnh D, sinh năm 1970; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: 20 ngõ E Đ, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; Nơi tạm trú: Không cố định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Trần Đình T (đã chết) và bà Trần Thị B; Có vợ là Nguyễn Phương L và có 02 con (con lớn sinh năm 1991, con bé sinh năm 1995); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/3/1990 Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử 12 tháng tù tội Cưỡng đoạt tài sản, ngày 29/9/2003 Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tội Đánh Bạc, 25/9/2017 Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai xử 8 tháng tù tội Trộm cắp tài sản (Ra trại ngày 17/6/2017), có 02 tiền sự đã hết thời hiệu gồm: Năm 1995 Đánh Bạc, Năm 2010 cai nghiện bắt buộc; Danh bản, chỉ bản số 139 ngày 07/02/2024 do Công an quận Đ lập; Tạm giữ, tạm giam: Bị tạm giữ từ ngày 07/02/2024 đến ngày 10/02/2024 được áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Thị L1, Sinh năm 1975; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKNKTT: 102 T, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội; Tạm trú trước khi bị bắt: 263 K, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; Hiện trú tại: Số G, ngách D, ngõ H, Phường M, quận H, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không;
Con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Ngô Thị L2; Chồng là Bùi Quang C (đã ly hôn); Có 04 con (con lớn nhất sinh năm 1995, con bé nhất sinh năm 2008); Tiền án, tiền sự: Không; Danh bản, chỉ bản số 161 ngày 23/02/2024 do Công an quận Đ lập; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngọai. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm: 1967; Trú tại: C V, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Bùi Quang T2, sinh năm 1998, Nơi thường trú: 102 T, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
- - Chị Trần Thái T3, sinh năm 1995; Trú tại: 1 - D B, phường K, quận T, Thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Trần Mạnh D và Nguyễn Thị L1 bị Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 06/2/2024, Trần Mạnh D điều khiển xe máy Honda Vision không BKS (số khung RLHJK0318NZ030269 số máy JK03E – 5367217) chở Nguyễn Thị L1 đi đến khu vực các chợ dân sinh với mục đích trộm cắp tài sản. Khi đến trước số F ngõ T, phường T, Đ, Hà Nội phát hiện có 01 chiếc xe máy Honda SH đang dựng ở đường không có ai trông giữ của chị Nguyễn Thị Thanh T1. L1 dùng tay lật thử cốp xe thì thấy cốp xe máy không khóa nên ra hiệu cho D tiến lại gần chiếc xe máy Honda SH, L1 giả vờ mua hàng rồi mở cốp của chiếc xe SH ra, D quan sát bên trong cốp xe máy có 01 chiếc ví da màu đen nên dùng tay phải lấy trộm chiếc ví đó rồi cất vào trong túi áo khoác. Sau đó, D điều khiển xe đèo L1 đi đến khu vực trước số A T, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội thì dừng xe mở chiếc ví vừa lấy được kiểm tra thì thấy bên trong có 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu vàng 256 GB (bên trong lắp sim 0913.383.608), 1.600.000 đồng, 02 USD, cùng 1 số giấy tờ tùy thân như sau: Thẻ căn cước công dân, Thẻ bảo hiểm y tế, Giấy phép lái xe đều mang tên chị Nguyễn Thị Thanh T1. D lấy 500.000 đồng và 2 USD, Số tiền 1.100.000 đồng D chia cho L1. Đối với 01 ví da màu đen và giấy tờ của chị T1 thì D và L1 vứt tại số A T, Đ, Hà Nội. Sau đó D và L1 đi đến trước khu vực số nhà D T, Phố H, H, Hà Nội bán chiếc điện thoại di động Iphone XSMax vừa trộm cắp được cho một nam thanh niên không quen biết với giá 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). D lấy 200.000 đồng chia cho L1 1.000.000 đồng. Hiện chưa thu giữ được chiếc điện thoại nêu trên.
Ngay sau khi phát hiện mất tài sản, chị Nguyễn Thị Thanh T1 lên CAP T trình báo sự việc. Cơ quan Công an tiến hành rà roát phát hiện Trần Mạnh D và Nguyễn Thị L1 đang ở khu vực chợ T4 nên đã đưa về trụ sở làm việc. Tại cơ quan công an, đối tượng D và L1 đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện, đồng thời giao nộp vật chứng cho cơ quan điều tra, gồm:
- - Tạm giữ của Trần Mạnh D: Số tiền 700.000 đồng; 02 USD; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Thanh T1; 01 Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị Thanh T1; 01 thẻ bảo hiểm mang tên Nguyễn Thị Thanh T1.
- - Tạm giữ của Nguyễn Thị L1: số tiền 2.100.000 đồng; 01 xe máy Honda Vision không đeo BKS số khung RLHJK0318NZ030269 số máy JK03E – 5367217
Tại kết luận định giá số 15 ngày 07/02/2024 của hội đồng định giá trong tố tụng quận Đ kết luận:
- - 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu vàng dung lượng 256 GB đã qua sử dụng chưa thu hồi giá 6.720.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng) và sim số 0913.383.608 chưa thu hồi phí cấp lại định giá 25.000 đồng (hai mươi lăm nghìn đồng)
- - 01 chiếc ví da màu đen kích thước 12*25*3cm chưa xác định được chủng loại chưa thu hồi chưa xác định được giá trị tại thời điểm định giá.
- - 01 CCCD mang tên Nguyễn Thị Thanh T1 số [...] đã qua sử dụng đã thu hồi phí cấp lại định giá 70.000 đồng
- - 01 Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị Thanh T1 số [...] đã qua sử dụng đã thu hồi phí cấp lại định giá 135.000 đồng
- - 01 thẻ bảo hiểm xã hội mang tên Nguyễn Thị Thanh T1 số 0197000852 liên hệ bảo hiểm xã hội cấp lại không mất phí.
Trao đổi tỷ giá ngoại tệ tại Ngân hàng A cung cấp ngày 6/2/2024 giá USD mua vào là 24.190 đồng/1USD (bán ra là 24.535 đồng/1USD)
Đối với 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu vàng dung lượng 256 GB đã qua sử dụng bên trong gắn sim số 0913.383.608 và 01 chiếc ví da màu đen kích thước 12*25*3cm tài sản chưa thu hồi, chị T1 trình bày đã được gia đình bị can Trần Mạnh D và Nguyễn Thị L1 bồi thường và chị T1 không yêu cầu gì khác.
Đối với số tiền 1.600.000 đồng và 2 USD cùng các giấy tờ gồm: căn cước công dân, giấy phép lái xe, thẻ bảo hiểm xã hội đều mang tên bị hại là chị Nguyễn Thị Thanh T1. Ngày 16/03/2024 Cơ quan CSĐT – Công an quận Đ đã trao trả lại cho chị Nguyễn Thị Thanh T1, chị T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Đối với chiếc xe máy Honda Vision không đeo BKS số khung RLHJK0318NZ030269 số máy JK03E – 5367217 xác định chiếc xe trên là của anh Bùi Quang T2 (là con trai của Nguyễn Thị L1) mua ngày 1/4/2022, do bận công việc anh T2 chưa đăng ký, anh T2 không biết L1 mượn xe để đi trộm cắp tài sản. Ngày 16/03/2024 Cơ quan CSĐT – Công an quận Đ đã trả chiếc xe trên cho chủ sở hữu là anh Bùi Quang T2.
Đối với số tiền 1.200.000 đồng là tiền bán điện thoại đã trộm cắp, Cơ quan Điều tra bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa để phục vụ xét xử.
Tại bản Cáo trạng số 107/CT-VKSĐĐ ngày 15/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội đã truy tố Trần Mạnh D và Nguyễn Thị L1 về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Mạnh D và Nguyễn Thị L1 về tội Trộm cắp tài sản. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo đã đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Mạnh D từ 12 tháng tù đến 16 tháng tù;
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L1 từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; Do các bị cáo đề nghị không lấy lại số tiền 1.200.000 đồng nên đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Các bị cáo không tranh luận; Bị cáo Trần Mạnh D đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Nguyễn Thị L1 đề nghị được hưởng án treo.
Căn cứ vào nội dung vụ án, các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự và không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định khởi tố, truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được coi là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình đã thực hiện như nội dung bản Cáo trạng nêu; Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, vật chứng vụ án, kết luận định giá tài sản, phù hợp về thời gian, địa điểm, diễn biến của vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 06/2/2024, tại trước số F ngõ T, phường T, Đ, Hà Nội Nguyễn Thị L1 dùng tay lật cốp xe Honda Vision để Trần Mạnh D lén lút chiếm đoạt 01 chiếc ví da màu đen của chị Nguyễn Thị Thanh T1. Trong ví có 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu vàng 256 GB (bên trong lắp sim 0913.383.608), 1.600.000 đồng, 02 USD và các giấy tờ gồm: 01 Thẻ căn cước công dân, 01 Thẻ bảo hiểm y tế, 01 Giấy phép lái xe đều mang tên chị Nguyễn Thị Thanh T1. Tổng giá trị tài sản D và L1 chiếm đoạt của chị T1 là 8.598.380 đồng. Vì vậy, Trần Mạnh D và Nguyễn Thị L1 đã phạm tội Trộm cắp tài sản. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.
Xét tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo thấy: Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm và không có sự phân công vai trò rõ ràng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự, trị an địa phương. Xét vai trò của từng bị cáo thì thấy: Trong vụ án có đối tượng Trần Mạnh D có nhân thân xấu, có nhiều tiền án, tiền sự, tuy đều đã được xóa nhưng chứng tỏ bị cáo đã được giáo dục nhiều lần nhưng không chịu tu dưỡng bản thân, D cũng là người trực tiếp lấy tài sản và bán tài sản trộm cắp được nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc hơn đồng phạm;
Đối với Nguyễn Thị L1 là người chủ động lật yên xe máy để tạo điều kiện cho D lấy tài sản nên cũng cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với mức độ gây nguy hại cho xã hội của bị cáo. Tuy nhiên, xét các bị cáo đều đầu thú, cùng nhau khắc phục toàn bộ hậu quả, thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên cần giảm cho các bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng đối với Nguyễn Thị L1 có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm Điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo Nguyễn Thị L1 không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng, do vậy có thể cho bị cáo L1 hưởng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 16/03/2024 Cơ quan CSĐT – Công an quận Đ đã trao trả lại cho chị Nguyễn Thị Thanh T1 số tiền 1.600.000 đồng và 2 USD cùng các giấy tờ gồm: căn cước công dân, giấy phép lái xe, thẻ bảo hiểm xã hội đều mang tên bị hại là chị Nguyễn Thị Thanh T1; Đối với số tài sản còn lại không thu hồi được, chị T1 đã được chị Trần Thái T3 ( con của bị cáo D) và bị cáo Nguyễn Thị L1 bồi thường toàn bộ số tiền 6.745.000 đồng. Nay không ai có đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét;
Đối với chiếc xe máy Honda Vision không đeo BKS số khung RLHJK0318NZ030269 số máy JK03E – 5367217 xác định chiếc xe trên là của anh Bùi Quang T2 mua ngày 1/4/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Đ xác định anh T2 không biết việc L1 mượn đi trộm cắp, nên ngày 16/03/2024 đã trả chiếc xe trên cho chủ sở hữu là anh Bùi Quang T2. Nay không ai có đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Về vật chứng:
- - Đối với 1.200.000 đồng (thu của L1 1.000.000 đồng và thu của D 200.000 đồng) các bị cáo đều đề nghị không lấy lại. Vì vậy cần sung quỹ Nhà nước.
- - Đối với 01 chiếc USB đã được lưu làm tài liệu trong hồ sơ.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Tuyên bố: Bị cáo Trần Mạnh D và bị cáo Nguyễn Thị L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (quy định về án phí, lệ phí Tòa án).
- Xử phạt: Bị cáo Trần Mạnh D 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/02/2024.
- - Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (quy định về án phí, lệ phí Tòa án).
- Xử phạt: Nguyễn Thị L1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án.
- Giao bị cáo Nguyễn Thị L1 cho Ủy ban nhân dân Phường M, quận H, Thành phố Hà Nội quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng: Tịch thu số tiền 1.200.000 đồng tạm giữ của các bị cáo hiện đang lưu giữ tại Ngân hàng thương mại cổ phần C1- Chi nhánh Đ theo giấy nộp tiền số 1 ngày 25/4/2024 vào tài khoản số [...] của Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa.
Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quản Văn Tiến |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
VIỆN KSND THÀNH PHỐ HÀ NỘI VIỆN KSND QUẬN ĐỐNG ĐA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: /CT-VKSĐĐ |
Đống Đa, ngày tháng 5 năm 2023 |
CÁO TRẠNG
VIỆN TRƯỞNG V
- - Căn cứ các Điều 41, 236, 239 và 243 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 17/QĐngày 07/02/2024của Cơ quanCảnh sát điều tra- Công an quận Đ về tộiTrộm cắp tài sản, theo quy định tạikhoản 1 Điều 173Bộ luật Hình sự;
- - Căn cứ Quyết định khởi tố bị can số 96/QĐ-CSHSngày 07/02/2024và Quyết định khởi tố bị can số 99/QĐ-CSHS củaCơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ với Trần Mạnh D vàNguyễn Thị Lamvề tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản1 Điều 173Bộ luật Hình sự;
- - Căn cứ bản Kết luận điều tra vụ án hình sự,đề nghị truy tố số 100ngày 02/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ.
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 06/2/2024, Trần Mạnh D (SN: 1970, Nơi thường trú: 20 ngõ E Đ, T, H, Hà Nội) điều khiển xe máy Honda Vision không BKS (số khung RLHJK0318NZ030269 số máy JK03E – 5367217) chở Nguyễn Thị L1 (SN: 1975, Nơi thường trú: 102 Thúy Ái 1, B, H, Hà Nội) đi lòng vòng qua khu vực các chợ dân sinh với mục đích cùng nhau tìm sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến trước số F ngõ T, phường T, Đ, Hà Nội phát hiện có 01 chiếc xe máy Honda SH đang dựng ở đường không có ai trông giữ của chị Nguyễn Thị Thanh T1 (SN: 1967, Trú tại: CT4 V, T, Cầu G, Hà Nội). L1 dùng tay lật thử cốp xe máy này lên thấy cốp xe máy Honda SH của chị T1 không khóa nên ra hiệu cho D tiến lại gần chiếc xe máy Honda SH, L1 xuống xe trả vờ mua hàng rồi mở cốp của chiếc xe SH ra, D quan sát bên trong cốp xe máy có 01 chiếc ví da màu đen nên dùng tay phải thò vào trong cốp xe máy lấy trộm 01 chiếc ví da và cất vào trong túi áo khoác. Sau đó, L1 đi lên xe máy của D điều khiển bỏ đi đến khu vực trước số A T, P. T, Đ, Hà Nội thì dừng xe lại lấy 01 chiếc ví vừa lấy trộm được ra kiểm tra thấy bên trong có 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu vàng 256 GB (bên trong lắp sim 0913.383.608), 1.600.000 đồng, 02 USD, cùng 1 số giấy tờ tùy thân như sau: Thẻ căn cước công dân, Thẻ bảo hiểm y tế, Giấy phép lái xe đều mang tên chị Nguyễn Thị Thanh T1. D lấy 500.000 đồng và 2 USD, Số tiền 1.100.000đồng D chia cho L1. Đối với 01 ví
da màu đen và giấy tờ của chị T1 thì D và L1 vứt tại số A T, Đ, Hà Nội. Rồi, D và L1 đi đến đến trước khu vực số nhà D T, Phố H, H, Hà Nội bán 01 điện thoại di động Iphone XSMax vừa trộm cắp được cho một nam thanh niên đi đường không quen biết giá 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). D lấy 200.000 đồng chia cho L1 1.000.000 đồng. Qua rà soát hiện chưa thu giữ được chiếc điện thoại nêu trên.
Ngay sau khi phát hiện mất tài sản chị Nguyễn Thị Thanh T1 lên C2 trình báo sự việc. Cơ quan Công an tiến hành rà roát phát hiện Trần Mạnh D và Nguyễn Thị L1 đang ở khu vực chợ T4 thì được C2 đưa về trụ sở làm việc. Tại cơ quan công an, đối tượng D và L1 đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm vi phạm của bản thân. Đồng thời giao nộp tang vật phục vụ điều tra cụ thể như sau:
- - Tạm giữ của Trần Mạnh D: Số tiền 700.000 đồng; 02 USD; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Thanh T1; 01 Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị Thanh T1; 01 thẻ bảo hiểm mang tên Nguyễn Thị Thanh T1.
- - Tạm giữ của Nguyễn Thị L1: số tiền 2.100.000 đồng; 01 xe máy Honda Vision không đeo BKS số khung RLHJK0318NZ030269 số máy JK03E – 5367217
Tại kết luận định giá số 15 ngày 07/02/2024 của hội đồng định giá trong tố tụng quận Đ kết luận:
- -01 điện thoại di động Iphone XS Max màu vàng dung lượng 256 GB đã qua sử dụng chưa thu hồi giá 6.720.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng) và sim số 0913.383.608 chưa thu hồi phí cấp lại định giá 25.000 đồng (hai mươi lăm nghìn đồng)
- - 01 chiếc ví da màu đen kích thước 12*25*3cm chưa xác định được chủng loại chưa thu hồi chưa xác định được giá trị tại thời điểm định giá.
- - 01 CCCD mang tên Nguyễn Thị Thanh T1 số [...] đã qua sử dụng đã thu hồi phí cấp lại định giá 70.000 đồng
- - 01 Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị Thanh T1 số [...] đã qua sử dụng đã thu hồi phí cấp lại định giá 135.000 đồng
- - 01 thẻ bảo hiểm xã hội mang tên Nguyễn Thị Thanh T1 số 0197000852 liên hệ bảo hiểm xã hội cấp lại không mất phí.
Trao đổi tỷ giá ngoại tệ tại Ngân hàng A cung cấp ngày 6/2/2024 giá USD mua vào là 24.190 đồng (bán ra là 24.535 đồng)
Đối với 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu vàng dung lượng 256 GB đã qua sử dụng bên trong gắn sim số 0913.383.608 và 01 chiếc ví da màu đen kích thước 12*25*3cm tài sản chưa thu hồi, chị T1 trình bày đã được gia đình bị can Trần Mạnh D và Nguyễn Thị L1 khắc phục số tiền trên cho chị T1, sau khi nhận được tiền chị T1 không yêu cầu gì khác.
Đối với số tiền 1.600.000 đồng và 2 USD, các giấy tờ gồm: căn cước công dân, giấy phép lái xe, thẻ bảo hiểm xã hội đều mang tên bị hại là chị Nguyễn Thị Thanh T1. Ngày 16/03/2024 Cơ quan CSĐT – Công an quận Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả lại cho chị Nguyễn Thị Thanh T1, chị T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Đối với chiếc xe máy Honda Vision không đeo BKS số khung RLHJK0318NZ030269 số máy JK03E – 5367217 xác định chiếc xe trên là của anh Bùi Quang T2 (SN: 1998, Nơi thường trú: 263 K, T, H, Hà Nội – là con trai của Nguyễn Thị L1) mua ngày 1/4/2022 và sử dụng đi lại hàng ngày, do bận công việc anh T2 chưa đăng ký, T2 cho Lam mượn để sử dụng việc L1 mượn chiếc xe trên để đi trộm cắp tài sản anh T2 không biết. Ngày 16/03/2024 Cơ quan CSĐT – Công an quận Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả chiếc xe trên cho chủ sở hữu là anh Bùi Quang T2.
Đối với số tiền 1.200.000 đồng là tiền bán điện thoại Cơ quan Điều tra bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa để phục vụ xét xử.
Căn cứ vào các tình tiết, chứng cứ nêu trên;
KẾT LUẬN
Khoảng 10 giờ 00 phútngày 06/02/2024, tại khu vựctrước số nhà F ngõ T, phường T, Đ, Hà Nội, Trần Mạnh D và Nguyễn Thị L1 đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc ví da màu đen bên trong có số tiền 1.600.000 đồng, 01 chiếc di động Iphone XS Max và một số giấy tờ tùy thân của chị Nguyễn Thị Thanh T1.Tổng tài sản trộm cắp trị giá 8.344.190 đồng (Tám triệu ba trăm bốn bốn ngàn, một trăm chín mươi đồng).
Như vậy có đủ căn cứ xác định các bị can có lý lịch dưới đây đã phạm tội như sau:
Họ và tên: Trần Mạnh D-Sinh năm 1970; Giới tính: Nam.
- - Nơi ĐKNKTT: 20 ngõ E Đ, T, H, Hà Nội
- - Nghề nghiệp: Không;Trình độ học vấn: 07/10.
- - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
- - Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không.
- - Con ông: Trần Đình T(đã chết)
- - Con bà: Trần Thị B
- - Vợ: Nguyễn Phương L.
- - Con: có 02 con, con lớn sinh năm 1991, con bé sinh năm 1995.
- - Tiền án, tiền sự: Không
- - Nhân thân:
- + Ngày 29/3/1990, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử 12 tháng tù tội Cưỡng đoạt tài sản.(đã xóa)
- + Ngày 29/9/2003, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử 10 tháng án treo tội Đánh Bạc.(đã xóa)
- + 25/9/2017 TAND Q. Hoàng Mai xử 8 tháng tù tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 17/6/2017 (đã xóa)
Ngoài ra lý lịch địa phương cấp còn thể hiện Trần Mạnh D có 02 tiền sự đã hết thời hiệu cụ thể: Năm 1995 Đánh Bạc, Năm 2010 cai nghiện bắt buộc.
Bị can đầu thú, bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 07/02/2024;Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội đầu thú,thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự).
Họ và tên: Nguyễn Thị L1 - Sinh năm 1975; Giới tính: Nữ.
- - Nơi ĐKNKTT: 102 T, B, H, Hà Nội
- - Nghề nghiệp: Không;Trình độ học vấn: 10/10.
- - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
- - Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không.
- - Con ông: Nguyễn Văn Q (đã chết)
- - Con bà: Ngô Thị L2
- - Chồng: Bùi Quang C (đã ly hôn).
- - Con: có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con bé nhất sinh năm 2008.
- - Tiền án, tiền sự: Không
Bị can đầu thú, bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 07/02/2024;Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự).
Hành vi nêutrên của bị can Nguyễn Thị L3 phạm vào tội Trộm cắp tài sản; Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
“1.Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...”
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Truy tố ra trước Toà án nhân dân quận Đống Đa để xét xử đối với bị can Trần Mạnh D, Nguyễn Thị L1 (có lý lịch nêu trên) về tội Trộm cắp tài sảntheo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Vật chứng vụ án gồm:Số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm ngàn đồng).
- - Kèm theo Cáo trạng là hồ sơ vụ án được đánh số thứ tự từ 01 đến.......
- - Danh sách những người VKS đề nghị Tòa án triệu tập đến phiên tòa.
|
Nơi nhận:
|
KT. VIỆN TRƯỞNG PHÓ VIỆN TRƯỞNG Đặng Thị Thu Hiền |
Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 139/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự về tội "Trộm cắp tài sản"
