Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2024/HS-PT

Ngày: 17-6-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng.

Các thẩm phán: Ông Lê Hồng Nước;

Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 109/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 08/2024/HS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc Ẩ, sinh năm: 1983, tại Đồng Tháp; nơi cư trú: 449, Khóm A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G và con bà Lê Thị Kim E; Có vợ và 02 người con; tiền án: không; tiền sự: Ngày 23/12/2020, bị Công an huyện L xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đóng phạt ngày 18/5/2021; nhân thân: Ngày 24/02/2014, Nguyễn Ngọc Ẩ bị Công an huyện L xử phạt 500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đóng phạt ngày 11/3/2014, đã hết thời hạn được coi là bị xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 31/12/2014, Nguyễn Ngọc Ẩ bị Công an huyện L xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đóng phạt ngày 08/01/2015; tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại: D, Khóm A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp

Ngoài ra trong vụ án còn bị hại, người liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Ngọc ẨNguyễn Thị T quen biết với nhau, cả hai đánh bạc dưới hình thức mua bán số đề được thua bằng tiền dựa trên kết quả sổ số kiến thiết các tỉnh miền N mở thưởng lúc 16 giờ 15 phút và các tỉnh miền Bắc lúc 18 giờ 15 phút cùng ngày. Ngày 01/3/2022, nhắn tin qua điện thoại cho T mua số đề 02 lần với tổng số tiền dùng đánh bạc là 8.900.000 đồng, cụ thể: Lúc 15 giờ 33 phút, nhắn tin cho T mua nhiều số đầu (giải thưởng 02 chữ số hay còn gọi là lô A) và bao 18 lô đài tỉnh Bạc Liêu với số tiền 250.000 đồng, kết quả thua và đã đưa cho T 250.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ 24 phút, tiếp tục nhắn tin mua nhiều số đuôi (02 chữ số cuối của giải đặc biệt hay còn gọi là lô B) và bao 23 lô đài tỉnh Quảng Ninh với số tiền 2.250.000 đồng, kết quả trúng được 6.400.000 đồng.

Ngoài hành vi đánh bạc nêu trên, Trần Ngọc Ẩ1 còn tạo tin nhắn giả là có mua bán số đề với T và đã trúng số tiền 38.400.000 đồng để nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của T. Sau khi Ẩ1 tạo tin nhắn giả xong, khoảng 18 giờ 20 phút ngày 01/3/2022, Trần Văn HNguyễn Thị Ngọc H1 là người quen của Ẩ1 đến quán của Ẩ1 thuộc Khóm A, thị trấn L, huyện L ăn tối. Lúc này, Ẩ1 nói cho H biết việc T không đồng ý chung tiền trúng số và kêu H giúp Ẩ1 hăm dọa, gây áp lực với T để đòi tiền, nếu T đưa tiền thì Ẩ1 sẽ chia cho H nhưng không nói rõ là chia bao nhiêu. Do H muốn có tiền để tiêu xài nên đồng ý giúp Ẩ1. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, T đến quán ăn của Ẩ1 để chung tiền trúng số 6.400.000 đồng cho Ẩ1. Nhận tiền xong, Ẩ1 kêu T chung thêm 38.400.000 đồng nhưng T không đồng ý nên cãi nhau với Ẩ1H hết khoảng 05 phút rồi T bỏ đi về. Do sợ Ẩ1H tìm đến chỗ làm thuê của T ở quán 999 thuộc Khóm D, thị trấn L để gây sự, nên T đến nhà anh ruột tên Nguyễn Văn T1, thuộc ấp L, xã H, huyện L để tránh mặt. Khoảng 10 phút sau, Ẩ1 kêu H điều khiển xe mô tô chở Ẩ1 đến quán 999 tìm T đòi tiền nhưng không gặp.

Do không gặp được T để đòi tiền, từ ngày 01/3/2022 đến ngày 04/3/2022, Ẩ1H dùng nhiều số điện thoại thay phiên nhau gọi cho T trên 78 cuộc (trong đó có khoảng 06 cuộc gọi đầu, T nói chuyện bị Ẩ1H chửi, hăm dọa nên các cuộc gọi sau, T không nghe) và gửi 35 tin nhắn SMS cho T (trong đó có 13 tin nhắn có nội dung hăm dọa nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của T). Do sợ Ẩ1H sẽ dùng vũ lực nên T kể lại sự việc cho chồng là Phạm Công D và con trai là Phạm Công K đang sống ở Thành phố Hồ Chí Minh nghe. Sau đó, anh D hẹn gặp Ẩ1H tại quán 999 để làm rõ sự việc. Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 09/3/2022, Ẩ1H đi cùng khoảng 07 đối tượng không rõ danh tính đến quán 999 gặp T, anh DK. Tại đây, Ẩ1H tiếp tục chửi T, riêng các đối tượng đi cùng thì ngồi xung quanh ở khu vực quán với mục đích gây áp lực để T chung số tiền 38.400.000 đồng nhưng T vẫn không đưa tiền. Sau đó, T trình báo sự việc đến Công an thị trấn L, huyện L để giải quyết theo quy định.

Cơ quan điều tra tạm giữ các tài sản và vật chứng có liên quan gồm:

  • 01 điện thoại di dộng (ĐTDĐ) hiệu Redmi, Made in China, Model M2003J6B2G, màu xanh ngọc, IMEI1 860295040491958/00, IMEI2 860295040591955/00; 01 thẻ sim điện thoại mạng Mobifone, số seri 8401201193071383, số thuê bao 0901557696 của Nguyễn Thị T.
  • 01 ĐTDĐ hiệu Samsung A12 màu đen, IMEI1 354813600821670/01, IMEI2 356766630821672/01; 01 thẻ sim điện thoại mạng Mobifone, số seri 8401200293004473, số thuê bao 0933161821 của Nguyễn Ngọc Ẩ.

Quá trình điều tra, Nguyễn Ngọc ẨTrần Văn H trình bày Nguyễn Thị Ngọc H1 có hành vi gọi điện thoại, nhắn tin cho Nguyễn Thị T để giúp đòi tiền trúng số mà đã tạo tin nhắn giả, nhưng H1 không thừa nhận và chưa đủ căn cứ kết luận H1 đồng phạm với H về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Đối với 07 người đi cùng với H đến quán 999 để đòi tiền T, hiện chưa xác định được họ, tên, địa chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục điều tra, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/3/2023, Nguyễn Thị T tự nguyện nộp lại 15.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án và Nguyễn Ngọc Ẩ nộp lại 1.500.000 đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc đánh bạc mà có.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 08/2024/HS-ST ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

- Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự.

Tổng hợp hình phạt của 02 tội “Cưỡng đoạt tài sản” và “Đánh bạc”, bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

- Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự phạt bổ sung đối với Nguyễn Ngọc Ẩ số tiền 10.000.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 18 tháng 3 năm 2024, bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt, miễn phần hình phạt bổ sung.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ với tội danh, điều khoản của tội danh và mức hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp thêm tình tiết nào mới tại cấp phúc thẩm. Bị cáo có nhân thân xấu nhiều lần bị xử phạt về hành vi đánh bạc. Xét thấy, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và mức hình phạt 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo về 02 tội danh và phạt bổ sung 10.000.000 đồng về tội đánh bạc là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Nguyễn Thị T là người trực tiếp bán số đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết của các tỉnh miền N và miền B. Vào lúc 15 giờ 33 phút ngày 01/3/2022 Nguyễn Ngọc Ẩ trực tiếp mua số đề của T bán với số tiền 250.000 đồng và lúc 17 giờ 24 phút cùng ngày với số tiền 8.650.000 đồng của các đài tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Quảng Ninh. Tổng số tiền 02 lần đánh bạc giữa T là 8.900.000 đồng. Ngoài hành vi đánh bạc với Nguyễn Thị T, vào lúc 18 giờ 20 phút cùng ngày 01/3/2022, Nguyễn Ngọc Ẩ đã tạo tin nhắn giả có mua bán số đề với T và đã trúng số tiền 38.400.000 đồng rồi cùng với Trần Văn H uy hiếp về mặt tinh thần, nhiều lần điện thoại, nhắn tin gây áp lực đối với T nhằm chiếm đoạt số tiền 38.400.000 đồng.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ nhận thức về hành vi của mình. Bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị xử lý về hành vi đánh bạc biết rõ việc đánh bạc bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện ngoài ra bị cáo còn có hành vi tạo ra tin nhắn trúng số đề giả rồi uy hiếp bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại chứng tỏ lỗi của bị cáo là lỗi cố ý và việc thực hiện tội phạm đã hoàn thành.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự và tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp thêm tình tiết nào mới tại cấp phúc thẩm. Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật từng bị xử lý nhiều lần về hành vi đánh bạc nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện do đó cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, xét mức án 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo về 02 tội danh và phạt bổ sung 10.000.000 đồng về tội đánh bạc là đã phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên phần quyết định của án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là không chấp yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với nhận định tại mục [3] nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;

    1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ. Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo.

  2. 2. Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

    - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ phạm tội “Đánh bạc”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

    - Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự.

    Tổng hợp hình phạt của 02 tội “Cưỡng đoạt tài sản” và “Đánh bạc”, bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

    - Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự phạt bổ sung đối với Nguyễn Ngọc Ẩ số tiền 10.000.000 đồng.

  3. 3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo Nguyễn Ngọc Ẩ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  4. 4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
  • - TAND huyện Lai Vung (02 bản);
  • - VKSND huyện Lai Vung;
  • - Chi cục THADS huyện Lai Vung;
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Lai Vung;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Lai Vung;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT, HSVA, (Hào).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Minh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/HS-PT ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về vụ án hình sự: cưỡng đoạt tài sản và đánh bạc

  • Số bản án: 139/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Cưỡng đoạt tài sản và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger