Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2024/DS-PT

Ngày: 22-5-2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất

và tháo dỡ công trình xây dựng trên đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thảo.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Trung.

Ông Trần Vĩnh Yên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Trần Ngọc Phương Trang – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Ông Phùng Đức Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 125/2025/TLPT-DS ngày 05 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tháo dỡ công trình xây dựng trên đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 19-01-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 134/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 352/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1955.
  • Địa chỉ: Số I, tổ E, đường D, khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.(có mặt)

  • Bị đơn: Ông Lê Đ, sinh năm 1965.
  • Địa chỉ: Số H, tổ E, đường D, khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.(có mặt)

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Đ: Luật sư Nguyễn Huy H– Văn phòng L1 – Đoàn luật sư tỉnh Đ.(có mặt)

  • Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Đỗ Thị Kim L, sinh năm 1967.(có mặt)
    2. Địa chỉ: Số H, tổ E, đường D, khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

      Người đại diện theo ủy quyền của bà L (Theo Văn bản ủy quyền ngày 29/9/2020): Ông Lê Đ, sinh năm 1965.

    3. Bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1978.
    4. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1982.(có mặt)
    5. Cùng địa chỉ: Số I, tổ E, đường D, khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

    6. Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1975.
    7. Địa chỉ: Số I, tổ E, đường D, khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

    8. Chỗ ở hiện nay: Số A, đường T, khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
    9. Bà Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1974.
    10. Địa chỉ: Ấp R, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

    11. Ông Nguyễn Minh T2, sinh năm 1995.
    12. Địa chỉ: Khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

      Chỗ ở hiện nay: Tổ E, đường D, khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn bà Lê Thị T:

Năm 1991, bà có mua của ông Đỗ Đình V1 phần đất diện tích 350m² với giá 10 chỉ vàng 24K, trên đất ông V1 bán cho bà đã có sẵn một căn nhà cấp 4 và đến nay căn nhà vẫn còn nguyên vẹn. Năm 1992 bà đã được UBND thị xã L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 247m². Năm 2000, nhà nước làm đường và thu hồi của bà hết một phần đất nên diện tích đất còn lại theo giấy chứng nhận quyền sử dụng năm 2008 chỉ còn là 231,8m².

Cạnh thửa đất của bà là thửa đất của ông Nguyễn Việt Q, sau đó ông Q bán lại cho ông Lê Điện . Khi bán đất cho ông Đ, do ông Q không giao đủ diện tích thỏa thuận nên ông Đ đã lấn sang thửa đất của bà. Thời điểm ông Đ làm hàng rào bà có nói ông Đ đừng lấn sang đất của bà nhưng ông Đ không nghe. Trước đây phần đất ông V1 bán cho bà có chiều ngang mặt sau là 6m, năm 2008 khi bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chiều ngang còn 5,6m nhưng hiện tại do bị ông Đ lấn chiếm nên chỉ còn có 5m. Sau khi bà làm đơn gửi UBND xã B can thiệp, giải quyết không thành nên năm 2017 bà khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Đ đến Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh, do bản án của Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh bị hủy nên nay xét xử lại.

Trong thời gian thu thập chứng cứ, bà có làm đơn khởi kiện bổ sung là yêu cầu ông Đ và vợ là bà Đỗ Thị Kim L phải trả lại phần diện tích đã lấn chiếm của bà là 98,2m², buộc ông Đ phải đập tường trả lại đất cho bà theo Bản trích lục và đo vẽ hiện trạng số 1352/2023 ngày 8/5/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ gồm các điểm (A2, B1, B9, C2, B8, C8, B7, A3, C9, A2) có diện tích 98,2m².

Đối với yêu cầu phản tố của ông Đ và bà L về việc yêu cầu bà phải trả lại phần đất diện tích 8,3m² thì bà không đồng ý vì ông Đ mới là người lấn chiếm đất của bà.

* Theo đơn phản tố, đơn phản tố bổ sung và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa của bị đơn ông Lê Đ (ông Đ cũng là đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Kim L):

Vợ chồng ông là chủ sử dụng đối với thửa đất số 41, tờ bản đồ số 22 ấp R, xã B, thị xã L, tỉnh Đồng Nai. Nguồn gốc thửa đất là do vợ chồng ông nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Việt Q vào năm 1995. Diện tích chiều ngang mặt trước và mặt sau thửa đất đều là 5,8m, tổng diện tích thửa đất là 261m².

Vợ chồng ông đã làm thủ tục kê khai đăng ký thửa đất và đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1998 với diện tích là 261m². Sau khi nhà nước làm đường và đo đạc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông vào năm 2013 thì diện tích thửa đất chỉ còn là 227,4m². Vợ chồng ông được biết trong quá trình đo vẽ thì giữa bản đồ địa chính mới và bản đồ địa chính cũ luôn có sai số nhất định, không thể chính xác 100% nên cũng chấp nhận.

Thời điểm ông Q bàn giao đất cho vợ chồng ông thì không chỉ có ông Q mà còn có sự chứng kiến của bà T cùng ra chỉ ranh. Đất mua của ông Q có hình gãy, vợ chồng ông đã chôn cọc bê tông từ trước ra sau và sử dụng đến nay đã 24 năm, hiện vẫn để trống chưa xây dựng nhà cửa gì (nhà vợ chồng ông ở cách đất tranh chấp khoảng 50m) và đến nay vẫn còn cột mốc nguyên vẹn không thay đổi, về phía bà T thì cũng làm ranh bằng đá để phân định đất giữa hai bên. Do phần đất phía sau thửa đất người dân hay vứt rác mất vệ sinh nên năm 2015, vợ chồng ông có xây đoạn tường phía sau dài 4m, cao 2,4m theo cột mốc cũ sát mí đá mà bà T đã tự xây trước trên phần đất của bà T để làm ranh. Khi vợ chồng ông xây tường bà T cũng không có ý kiến gì, ranh giới giữa hai bên bao nhiêu năm vẫn sử dụng như vậy, không hề có sự xê dịch. Năm 2017, bà T làm đơn khởi kiện cho rằng vợ chồng ông lấn đất và vụ án đã được Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh xử nhưng sau đó bị cấp phúc thẩm hủy đưa về xét xử lại. Nay bà T làm đơn khởi kiện vợ chồng ông yêu cầu trả lại cho bà T phần đất 98,2m² thì vợ chồng ông không đồng ý.

Ngày 29/10/2020, vợ chồng ông làm đơn phản tố và ngày 07/7/2022 có làm đơn phản tố bổ sung yêu cầu bà T và những người trong hộ của bà T phải trả lại cho vợ chồng ông phần đất diện tích 8,3m² theo Bản trích lục và đo vẽ hiện trạng số 1352/2023 ngày 8/5/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ gồm các điểm (C1, 10, 9, B9, B1, C1).

* Theo biên bản lấy lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu T1 trình bày:

Bà là con ruột của bà T, bà có nghe bà T nói lại đang tranh chấp đất với ông Đ và bà L nhưng bà không quan tâm vì tháng 02/1997 bà đã lập gia đình và ra ở riêng nên bà không biết rõ cụ thể vụ việc tranh chấp. Cha bà là ông Nguyễn Văn D đã chết vào năm 1983, mẹ bà nhận chuyển nhượng diện tích phần đất tranh chấp từ ông Đỗ Đình V1 vào năm 1991, thời điểm đó bà còn nhỏ. Sau khi nhận chuyển nhượng đất được khoảng 01 năm thì ngày 20/11/1992 mẹ bà đã được UBND thị xã L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 247m² thuộc thửa đất số 241, tờ bản đồ số 15 xã X, thị xã L (nay thuộc phường B, thành phố L). Năm 2008 có đợt cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thửa đất bị lấy bớt để mở rộng đường nên diện tích theo giấy chứng nhận được cấp đổi chỉ còn là 231,8m² thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 22 khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 600237 do UBND thị xã L cũ cấp ngày 20/11/2008 cho hộ bà Lê Thị T). Mặc dù trước đây bà có tên trong sổ hộ khẩu gia đình nhưng bà không hiểu lý do vì sao đất được cấp cho hộ bà Lê Thị T, tuy nhiên bà khẳng định bản thân bà không có đóng góp công sức hay tiền của gì để tạo dựng nên diện tích đất trên. Do nguồn gốc đất là của mẹ bà nên đề nghị Tòa án không đưa bà vào tham gia tố tụng trong vụ án này với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bà cam kết không khiếu nại hay thắc mắc bất cứ vấn đề gì về sau.

* Theo bản tự khai và biên bản lấy lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M:

Ông là con ruột của bà T, ông cũng thống nhất ý kiến của bà T và không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đ về việc buộc bà T và anh chị em ông phải trả lại cho ông Đ và bà L phần đất diện tích 8,3m². Ông đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho gia đình ông.

* Theo bản tự khai và biên bản lấy lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu V:

Bà là con ruột của bà T, bà cũng thống nhất ý kiến của bà T và không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đ về việc buộc bà T và anh chị em bà phải trả lại cho ông Đ và bà L phần đất 8,3m². Bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho gia đình bà.

* Theo bản tự khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H1:

Bà là con của bà T, bà cũng thống nhất ý kiến của bà T và không đồng ý với yêu cầu của ông Đ về việc buộc bà T và anh chị em bà phải trả lại cho ông Đ và bà L phần đất 8,3m². Bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho gia đình bà.

* Theo bản tự khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh T2 trình bày:

Ông là người thuê đất của ông Lê Đ để làm nhà xưởng vào ngày 10/3/2020. Giữa ông và ông Đ, bà T không có mâu thuẫn gì. Ông Hợp đồng thuê đất đến tháng 3 năm 2024 là hết hạn, việc tranh chấp đất giữa các bên ông không có ý kiến. Nếu có tháo dỡ công trình trên đất thì ông cũng không có khiếu nại gì. Ông đã làm đơn xin vắng mặt vì bận công việc.

* Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ông Nguyễn Việt Q trình bày:

Ông là hàng xóm của bà T và vợ chồng ông Đ, bà L. Ngoài ra giữa ông và vợ chồng ông Đ còn là họ hàng xa. Bản thân ông và bà T cũng như vợ chồng ông Đ hoàn toàn không có mâu thuẫn gì từ trước đến nay. Đất của vợ chồng ông Đ là do nhận chuyển nhượng từ cha của ông là ông Nguyễn P.

Theo ông biết thì trước đây bà T có kiện bà H2 là hộ sử dụng đất sát bên nhà bà T, ông không biết rõ họ tên đầy đủ. Tuy nhiên sau khi hai bên lớn tiếng thì bà T quay qua kiện ông và ông Đ đến UBND xã B (nay là phường B) vì cho rằng ông và ông Đ lấn đất của bà T. Trên thực tế lô đất của bà T kế bên lô đất của ông Đ, còn đất của ông sát bên đất của ông Đ nên sau khi hòa giải tranh chấp đất đai tại xã không thành thì bà T chỉ kiện vợ chồng ông Đ, bà L đến Tòa án.

Nguồn gốc đất của vợ chồng ông Đ là do cha ông chuyển nhượng vào ngày 23/4/1995 với diện tích là 212m² (chiều ngang 5,8m x chiều dài 36,55m) với giá 56 chỉ vàng 24k loại 97%, đất có tứ cận như sau: hướng Bắc và hướng Nam giáp đường; hướng Tây giáp phần đất còn lại của cha ông, hướng Đông giáp đất bà T. Khi hai bên mua bán thì ông không trực tiếp chứng kiến, tuy nhiên ranh đất giữa phần đất cha ông chuyển nhượng cho vợ chồng ông Đ thì mẹ đẻ của ông là bà Lê Thị H3 (đã chết) đã bê những viên đá lớn sắp thành bờ đá có chiều dài khoảng gần 20m để làm ranh giữa hai nhà và hiện vẫn còn nguyên nhưng nằm phía dưới đất. Hàng ranh tiếp theo được xác định là bức tường do chủ cũ của bà T xây làm chuồng heo có chiều dài khoảng 5-10m, chiều cao cách mặt đất khoảng 40-50cm, hiện vẫn còn. Kế tiếp là bờ đá (từ bức tường chuồng heo đổ về phía cuối đất) do sau khi chuyển nhượng bà T xây bờ ranh bằng đá chẻ có chiều dài khoảng 4-5m, chiều cao cách mặt đất khoảng 5-10cm, tất cả các mốc ranh trên đều có từ trước khi cha ông bán đất cho vợ chồng ông Đ. Sau khi nhận chuyển chượng, vợ chồng ông Đ đã chôn khoảng 10 trụ bê tông trên phần ranh giới giữa hai nhà để làm ranh. Cách đây khoảng 3-4 năm khi phía cuối đất của ông Đ bị người dân đổ rác bữa bãi nên ông Đ có xây bức tường nằm trên phần đất của ông Đ và xây phía trong phần bờ đá chẻ do bà T xây. Khi ông Đ xây bức tường này thì ông không thấy bà T có tranh chấp gì nên việc bà T cho rằng vợ chồng ông Đ lấn đất là không đúng vì tất cả các ranh mốc giữa hai hộ từ trước đến nay vẫn còn nguyên. Ông cam kết khai đúng sự thật và chịu trách nhiệm về lời khai của mình.

* Phát biểu của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Lê Đ:

Nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc quản lý, sử dụng diện tích đất 93m². Hiện nay phần đất nguyên đơn tranh chấp đã được bị đơn quản lý sử dụng ổn định từ lâu nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ. Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, sau khi được Hội đồng xét xử phân tích và giải thích, Luật sư đề nghị bị đơn xem xét rút yêu cầu phản tố vì diện tích đất bị đơn quản lý sử dụng đã đủ.

Ngày 22/10/2018, Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh đã xét xử vụ án (Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2018/DS-ST) như sau:

  • Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Lê Thị T đối với ông Lê Đ và bà Đỗ Thị Kim L về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
  • Ông Lê Đ và bà Đỗ Thị Kim L có trách nhiệm trả lại cho bà Lê Thị T diện tích 1,1m² là một phần thửa đất số 42, tờ bản đồ số 22, tại tổ E, ấp R, xã B, thị xã L, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc (b, c, d, e, q, b) theo bản trích lục và đo vẽ hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 3059/2018 ngày 26/7/2018 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ, chi nhánh L2. Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo. Sau đó bà T và ông Đ kháng cáo.

Ngày 09/04/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm (Bản án dân sự phúc thẩm số 32/2019/DS-PT) đã hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2018/DS-ST ngày 22/10/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh với lý do Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ và vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 19-01-2024, Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh đã căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 220, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 265, Điều 266 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 164, Điều 217, Điều 219, Điều 357, Điều 468, Điều 605, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 203 Luật Đất đai; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T đối với yêu cầu buộc ông Lê Đ và bà Đỗ Thị Kim L trả lại 98,2m² đất.
  2. Buộc ông Lê Đ và bà Đỗ Thị Kim L phải giao trả lại cho bà Lê Thị T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Thu T1, Nguyễn Thị Thu H1 và Nguyễn Thị Thu V diện tích 8,3m² đất theo các điểm mốc (B1, C1, 9, B9, B1) theo bản trích lục và đo vẽ hiện trạng số 1352/2023 ngày 08/5/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.

    Buộc ông Lê Đ và bà Đỗ Thị Kim L có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà Lê Thị T và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Thu T1, Nguyễn Thị Thu H1 và Nguyễn Thị Thu V số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) tương ứng với 0,8m² theo các điểm mốc (C2, B8, C8, C2).

    Ranh giới đất giữa nhà của ông Lê Đ, bà Đỗ Thị Kim L và bà Lê Thị T cùng những người liên quan ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Thu T1, bà Nguyễn Thị Thu H1 và bà Nguyễn Thị Thu V được xác định theo các điểm mốc (B1, B9, C2, B8, C8, B7). Theo bản trích lục và đo vẽ hiện trạng số 1352/2023 ngày 8/5/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.

    Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Lê Đ và bà Đỗ Thị Kim L, bà Lê Thị T và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Thu T1, bà Nguyễn Thị Thu H1 và bà Nguyễn Thị Thu V có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành kê khai đăng ký cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  3. Đình chỉ xét xử yêu cầu phản tố của ông Lê Đ và bà Đỗ Thị Kim L đối với yêu cầu buộc bà Lê Thị T trả lại 8,3m² đất.
  4. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

- Ngày 25/01/2024, bà Lê Thị T có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 19-01-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.

- Ngày 30/01/2024, ông Lê Đ có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 19-01-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm hoặc sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Đ.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm của người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về yêu kháng kháng cáo của các đương sự:

Bà T và ông Đ đã đồng ý với kết quả đo vẽ được ghi nhận tại bản vẽ do Văn phòng đăng ký tỉnh Đ thực hiện. Trên cơ sở đó, xác định về ranh giới theo bản đồ địa chính không có sự sai khác, chủ yếu là do bà T chỉ ranh thay đổi so với hai lần đo trước đây. Các đương sự thống nhất bản vẽ đo sau cùng số 4002 ngày 14/4/2022 và số 1352 ngày 08/5/2023 do Văn phòng đăng ký tỉnh Đ thực hiện làm cơ sở giải quyết vụ án.

Theo ranh bản đồ địa chính thì diện tích đất của bà T là 215,3m² (nhỏ hơn so với giấy chứng nhận được cấp là 231,8m²), của ông Đ là 226,9m². Còn khi chỉ ranh đất, bà T chỉ đến giữa đất nhà của ông Đ với diện tích là 326,4m². Ông Đ chỉ ranh đất là 218,6m² (lớn hơn 8,3m² so với ranh bản đồ địa chính).

Nguồn gốc đất của bà T do nhận chuyển nhượng, có giấy tờ hợp lệ. Tuy nhiên do trong quá trình mua bán chỉ viết giấy tay, các bên không thực hiện việc đo đạc thực tế mà chỉ nói và ghi nhận diện tích trong giấy mua bán. Đồng thời trong quá trình sử dụng nhà nước có thu hồi đất làm đường và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T từ năm 2008 với diện tích là 231,8m² và bà T cũng không thắc mắc khiếu nại nên chỉ có căn cứ xác định bà T có đất thực tế theo chỉ dẫn là 215,3m² + 8,3m² để xem xét giải quyết tranh chấp.

Nguồn gốc đất của ông Đ cũng từ nhận chuyển nhượng, có giấy tờ hợp lệ. Tuy nhiên qua xem xét thực tế và bản trích lục đo vẽ cùng với các chứng cứ có trong hồ sơ và sự thừa nhận của ông Đ thì ranh mốc giữa hai bên được xác định theo các cột bê tông do ông Đ cắm từ năm 1995 cho đến nay. Như vậy mặc dù trong giấy chứng nhận thì ông Đ được cấp cả phần đất 8,3m² nhưng trên thực tế ông Đ không sử dụng phần diện tích 8,3m² này.

Trước đây vào ngày 25/04/2007, ông Đ có làm đơn xin điều chỉnh đất do thấy diện tích chiều ngang của mình không đúng với bản đồ. Hiện tại, ông Đ cho rằng đất nhà ông có chiều ngang là 6,1m (theo bản đồ địa chính ghi nhận) chứ không phải 5,8m do vậy nên đất ông bị thiếu nhiều. Tuy nhiên, qua xem xét lời khai của người làm chứng là ông Q (chủ đất cũ) cũng xác định “Nguồn gốc đất là vào ngày 23/4/1995 cha ông là ông Nguyễn P đã chuyển nhượng diện tích đất là 212m² (chiều ngang là 5,8m x chiều dài là 36,55m) cho vợ chồng ông Đ, bà L và sau khi nhận chuyển nhượng, ông Đ đã chôn khoảng 10 trụ bê tông trên phần ranh giới giữa hai nhà để làm ranh”. Cách đây khoảng 3-4 năm, ông Đ đã xây bức tường trên đất ông Đ.

Ngoài ra, tại công văn số 2240/UBND-NC ngày 23/07/2019 của UBND thành phố L cũng xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T và ông Đ, bà L là đúng theo quy định. Tuy nhiên trên thực tế thì 8,3m² này là đất của nhà bà T không phải của ông Đ nên cần điều chỉnh lại.

Từ những cơ sở trên, có căn cứ xác định 8,3m² đất giới hạn các điểm mốc (B1, C1, 9, B9, B1) theo bản trích lục và đo vẽ hiện trạng số 1352/2023 ngày 8/5/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ thuộc quyền sử dụng của bà T. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử là phù hợp với các chứng cứ đã thu thập được và có căn cứ pháp luật.

Kháng cáo của bà T về việc buộc ông Đ phải đập bức tường ngăn cách giữa hai bên. Theo bản trích lục và đo vẽ hiện trạng số 1352/2023 thể hiện phần ranh có bức tường gạch xây và hàng rào lưới có diện tích lấn qua là 0,8m² thể hiện từ các điểm mốc (C2, B8, C8, C2). Xét thấy vì diện tích quá nhỏ do trong quá trình xây dựng đã lấn sang ranh đất của bà T, sau khi xây bức tường thì bà T cũng không có thắc mắc khiếu nại gì. Do đó, giữ nguyên bức tường phân chia ranh 2 thửa đất và buộc ông Điện thanh t giá trị cho bà T với số tiền 0,8m² x 15.000.000đ/1m² = 12.000.000₫ là phù hợp.

Như vậy nên kháng cáo của bà T về việc đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng buộc ông Đ trả 98m² đất và đập bức tường là không có cơ sở chấp nhận.

Đối với kháng cáo của ông Đ cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu phản tố của ông với lý do ông rút yêu cầu là không đúng. Xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm ông Đ thừa nhận tại phiên tòa sơ thẩm có xin rút yêu cầu phản tố nên kháng cáo của ông Đ là không có cơ sở xem xét chấp nhận.

Từ phân tích trên, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà T và ông Đ. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

  1. [1] Về thời hạn nộp đơn kháng cáo: Bà Lê Thị T và ông Lê Đ nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định, đồng thời cả hai cũng có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. [2] Về quan hệ pháp luật và xác định tư cách đương sự trong vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng và đầy đủ.
  3. [3] Về nội dung kháng cáo của bà T:
    1. Về nguồn gốc các thửa đất:
    2. Thửa đất số 42, tờ bản đồ số 22 phường B, thành phố L được bà T nhận chuyển nhượng từ ông Đỗ Đình V1 vào năm 1991. Diện tích đất ông V1 chuyển nhượng cho bà T là 350m² và trên đất còn có một căn nhà cấp 4 hiện nay vẫn còn nguyên vẹn. Năm 1992, bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích đất theo giấy chứng nhận chỉ còn 247m². Năm 2000, thửa đất bị thu hồi một phần để làm đường nên diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà T được cấp đổi lại vào năm 2008 chỉ còn 231,8m².

      Thửa đất số 41, tờ bản đồ số 22 phường B, thành phố L được vợ chồng ông Đ – bà L nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Việt Q vào năm 1995. Diện tích đất ông Q chuyển nhượng cho ông Đ – bà L là 261m² (chiều ngang mặt trước và mặt sau thửa đất khi đó là 5,8m theo giấy sang nhượng ngày 23/4/1995). Năm 2013, ông Đ – bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất trên và diện tích thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng chỉ còn 227,4m².

    3. Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 06/09/2019 và ngày 06/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh thì trên thửa đất của bà T vẫn còn căn nhà cấp 4 gắn liền với thửa đất do bà T mua ông V1 từ năm 1991 và vị trí căn nhà không thay đổi so với lúc mua. Thửa đất của ông Đ – bà L liền ranh với thửa đất của bà T và giữa hai thửa đất có chôn những trụ cột bê tông dọc theo làm điểm phân cách. Phần cuối giữa hai thửa đất có một bức tường gạch cao 2m, dài 5m. Trên đất của ông Đ – bà L có ông Nguyễn Minh T2 thuê làm nhà xưởng, ông T2 có dựng nhà tạm bằng khung sắt và lợp tole sử dụng, phần đất còn lại xung quanh vẫn để trống.
    4. Căn cứ theo bản Trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 1352/2023 ngày 08/5/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ (bà T và ông Đ thống nhất dùng làm căn cứ giải quyết tranh chấp) cho thấy ranh giới giữa hai thửa đất theo bản đồ địa chính không có sự sai khác. Theo bản vẽ thì phần diện tích đất bà T tranh chấp là 98,2m². Theo ranh bản đồ địa chính thì diện tích thửa đất của bà T chỉ còn 215,3m², nhỏ hơn so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà T được cấp, phần ranh đất của bà T theo bà T chỉ nằm giữa phần đất của ông Đ – bà L và có diện tích là 326.4m², lớn hơn so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà T được cấp.
    5. Về phía ông Đ, ranh do ông Đ chỉ dẫn thể hiện diện tích thửa đất của ông Đ là 218.6m², còn theo ranh bản đồ địa chính thì diện tích thửa đất của ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng là 226.9m² (218.6m² + 8.3m² = 226.9m²). Như vậy phần đất diện tích 8,3m² ông Đ yêu cầu bà T trả lại hiện đang nằm trong phần đất của ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, tuy nhiên trên thực tế thì phần đất này là phần đất trống giáp ranh giữa hai thửa đất và nằm ngoài phần cột mốc do ông Đ cắm mốc và chỉ dẫn.

      Từ các căn cứ trên cho thấy mặc dù theo giấy viết tay thể hiện ông V1 chuyển nhượng cho bà T phần đất diện tích 350m², tuy nhiên khi bàn giao đất hai bên không thực hiện việc đo đạc thực tế, chỉ nói miệng với nhau là bàn giao đất theo diện tích được ghi nhận trong giấy mua bán. Đồng thời thửa đất của bà T trước đây có một phần bị thu hồi làm đường và năm 2008 khi được cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích đất thể hiện trên giấy chứng nhận chỉ còn là 231,8m² nhưng bà T cũng không thắc mắc, khiếu nại gì từ đó cho đến nay. Đối với thửa đất của ông Đ – bà L, qua xem xét thực tế thể hiện ranh mốc tiếp giáp với thửa đất của bà T là các cột bê tông do ông Đ cắm mốc từ năm 1995 và bản thân ông Đ cũng chỉ ranh mốc thửa đất của mình theo các cột mốc mà ông đã cắm. Do vậy, mặc dù theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phần đất diện tích 8,3m² được cấp cho ông Đ nhưng trên thực tế ông Đ không sử dụng 8,3m² đất này. Mặt khác vào ngày 25/04/2007, ông Đ đã có làm đơn xin điều chỉnh lại diện tích đất do trong quá trình sử dụng nhận thấy chiều ngang thửa đất của mình không đúng với bản đồ (chiều ngang thửa đất khi mua chỉ có 5,8m nhưng trong bản đồ là 6,1m) nên diện tích thửa đất của ông Đ tăng lên nhiều hơn so với diện tích đất đã mua ban đầu.

      Ngoài ra, ông Q là chủ đất cũ cũng xác định nguồn gốc thửa đất của ông Đ – bà L là do cha ông Q là ông Nguyễn P chuyển nhượng vào năm 1995. Diện tích đất ông P chuyển nhượng cho ông Đ – bà L là 212m² (chiều ngang 5,8m x chiều dài 36,55m) và sau khi nhận chuyển nhượng, ông Đ – bà L đã chôn khoảng 10 trụ bê tông dọc theo phần ranh với thửa đất của bà T để làm ngăn cách giữa hai nhà. Do vậy nhận thấy có căn cứ xác định chiều ngang đất của ông Đ chỉ là 5,8m.

    6. Đối với ranh tiếp giáp phần cuối thửa đất của ông Đ và bà T, ông Đ có xây bức tường ngăn cách giữa hai bên. Theo bản Trích lục và đo vẽ hiện trạng số 1352/2023 ngày 08/5/2023 thể hiện phần ranh do ông Đ chỉ dẫn theo thực tế là bức tường gạch xây và hàng rào lưới có lấn qua đất của nhà bà T so với ranh bản đồ địa chính nhưng diện tích không đáng kể chỉ có 0,8m² (thể hiện từ các điểm mốc C2, B8, C8, C2). Do diện tích đất trên là quá nhỏ nên việc bà T yêu cầu ông Đ phải đập tường trả đất là không phù hợp nên Tòa án cấp sơ thẩm tính thành tiền theo giá trị đất thị trường tại thời điểm định giá để buộc ông Đ phải hoàn trả cho bà T là phù hợp với quy định của pháp luật.
    7. Cụ thể được tính như sau: 0,8m² x 15.000.000đ/1m² = 12.000.000đồng (Theo biên bản định giá ngày 08/11/2023 của Hội đồng định giá).

      Từ các căn cứ trên xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà T và tuyên xử theo như nội dung Quyết định của Bản án số 02/2024/DS-ST ngày 19/01/2024 của Tòa án thành phố L là đúng với thực tế sử dụng đất của các bên, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần giữ nguyên bản án trên.

  4. [4] Đối với kháng cáo của ông Đ: Tại phiên tòa phúc thẩm ông Đ thừa nhận do không hiểu biết nên tại phiên tòa sơ thẩm ông có xin rút yêu cầu phản tố. Do ông Đ đã tự nguyện rút yêu cầu phản tố nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Đ là đúng. Đối với kháng cáo của ông Đ về việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà T thì đã nhận định ở trên, do không chấp nhận kháng cáo của bà T giữ nguyên bản án sơ thẩm nên kháng cáo của ông Đ về phần này cũng không có căn cứ chấp nhận.
  5. [5] Về chi phí tố tụng: Ông Đ rút yêu cầu phản tố nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Đ phải chịu đối với phần yêu cầu phản tố của ông Đ là 2.200.000 đồng (ông Đ đã nộp đủ), buộc ông Đ phải chịu một phần chi phí tố tụng do yêu cầu khởi kiện của bà T được chấp nhận một phần với tỷ lệ là 1% với số tiền 107.110 đồng (10.711.000₫ x 1% = 107.110 đồng) cũng là phù hợp. Đối với phần yêu cầu khởi kiện bà T không được chấp nhận, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà T phải chịu một phần với số tiền 8.403.890 đồng (bà T đã nộp đủ) và buộc ông Đ phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà T số tiền chi phí tố tụng là 107.110 đồng cũng là phù hợp.
  6. [6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Đối với bà T: Do yêu cầu khởi kiện của bà T chỉ được chấp nhận một phần nên bà T phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận.
    2. Đối với ông Đ: Do ông Đ đã rút yêu cầu phản tố nên ông Đ không phải chịu, riêng đối với phần yêu cầu khởi kiện của bà T được Tòa án chấp nhận ông Đ phải chịu theo quy định.

    Tuy nhiên do bà T là người cao tuổi, ông Đ có cha là liệt sỹ và cả hai đều có đơn xin được miễn nộp tiền án phí nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí cho bà T và ông Đ. Giải quyết hoàn trả cho bà T số tiền 1.800.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 008009 ngày 23/11/2017 và biên lai thu tiền số 002903 ngày 01/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Khánh (nay là thành phố L), hoàn trả cho ông Lê Đ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 002905 ngày 05/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Khánh (nay là thành phố L) là đúng với quy định.

  7. [7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà T và ông Đ được miễn theo quy định.
  8. [8] Phát biểu của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn chỉ phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
  9. [9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận toàn bộ đơn kháng cáo của bà Lê Thị T và ông Lê Điện .

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 19-01-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 220, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 265, Điều 266 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 164, Điều 217, Điều 219, Điều 357, Điều 468, Điều 605, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 203 Luật Đất đai 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T về việc buộc ông Lê Đ và bà Đỗ Thị Kim L phải trả lại phần đất diện tích 98,2m².
    1. Buộc ông Lê Đ và bà Đỗ Thị Kim L phải giao trả lại cho bà Lê Thị T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Thu T1, bà Nguyễn Thị Thu H1 và bà Nguyễn Thị Thu V phần đất diện tích 8,3m² giới hạn tại các điểm mốc B1, C1, 9, B9, B1 theo bản Trích lục và đo vẽ hiện trạng số 1352/2023 ngày 08/5/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.
    2. Buộc ông Lê Đ và bà Đỗ Thị Kim L có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà Lê Thị T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Thu T1, bà Nguyễn Thị Thu H1 và bà Nguyễn Thị Thu V số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) tương ứng với giá trị của phần đất diện tích 0,8m² giới hạn tại các điểm mốc C2, B8, C8, C2 theo bản Trích lục và đo vẽ hiện trạng số 1352/2023 ngày 08/5/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.
    3. Ranh giới giữa thửa đất số 41 và thửa đất số 42 tờ bản đồ số 22, phường B, thành phố L (giữa nhà ông Lê Đ, bà Đỗ Thị Kim L và bà Lê Thị T cùng những người liên quan ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Thu T1, bà Nguyễn Thị Thu H1 và bà Nguyễn Thị Thu V) được xác định theo các điểm mốc B1, B9, C2, B8, C8, B7 theo bản Trích lục và đo vẽ hiện trạng số 1352/2023 ngày 08/5/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.
    4. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Lê Đ và bà Đỗ Thị Kim L, bà Lê Thị T và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Thu T1, bà Nguyễn Thị Thu H1 và bà Nguyễn Thị Thu V có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành kê khai đăng ký cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của ông Lê Đ và bà Đỗ Thị Kim L về việc yêu cầu bà Lê Thị T trả lại 8,3m² đất.
  3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lê Đ phải hoàn trả lại cho bà Lê Thị T số tiền 107.110 đồng (Một trăm lẽ bảy nghìn một trăm mười đồng).
  4. Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn cho bà Lê Thị T và ông Lê Điện .
    1. Hoàn trả cho bà Lê Thị T số tiền 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 008009 ngày 23/11/2017 và biên lai thu tiền số 002903 ngày 01/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Khánh (nay là thành phố L).
    2. Hoàn trả cho ông Lê Đ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 002905 ngày 05/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Khánh (nay là thành phố L).
  5. Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho bà Lê Thị T và ông Lê Đ theo quy định.
  6. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND TP. Long Khánh;
  • - Chi cục THADS TP . Long Khánh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/DS-PT ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất và tháo dỡ công trình xây dựng trên đất

  • Số bản án: 139/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T/C HĐCN QSD đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger