Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 139/2025/HS-ST

Ngày: 18-6-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đại.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vương Thị Dung;

Ông Trần Quang Thuần.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thùy Trang– Thư ký Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Tới - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai; Tòa án nhân dân huyện Định Quán tiến hành xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 116/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Lục Văn B; Giới tính: Nam; Sinh năm 1994 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú (chỗ ở): Tổ A, ấp A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Con ông Lục Văn N và con bà Hồ Thị B1; Có vợ tên Nguyễn Thị Thu T (Đã ly hôn); Có 02 người con (con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2020); Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2025 đến nay. (Có mặt)

- Bị hại: Cháu Phùn Thị Yến T1, sinh ngày 27/12/2013. Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

Người giám hộ hợp pháp của cháu T1: Chị Lý Thị X, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Lục Văn B là bạn bè quen biết với Lê Tấn T2, Trần Thị Ngọc T3. T3 có mối quan hệ quen biết với T4 và cháu Phùn Thị Yến T1, sinh ngày 27/12/2013. Khoảng 11 giờ ngày 22/01/2025, cháu T1 và T4 đi uống nước tại quán cà phê “Huỳnh Tuyền” tại ấp A, xã T, huyện Đ thì gặp Lục Văn B, T2 và T3 nên ngồi chung với nhau. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày B, T2, T3, T4 và cháu T1 đến khu vực Lâm trường III xã T, huyện Đ để nhậu, đến 23 giờ cùng ngày thì T1, T3, T4, T2 và B tiếp tục đến chòi rẫy của Ba thuộc ấp G, xã T để nhậu tiếp đến khoảng 00 giờ ngày 23/01/2025 thì nghỉ. Sau khi nhậu xong, T4 đi về nhà còn Ba, T2, cháu T1 và T3 ngủ lại chòi, cả 04 người cùng ngủ trên một tấm nệm trên sàn nhà phòng khách, được một lúc thì T2 và T3 đi qua phòng bếp ngủ trên võng, còn lại Ba và cháu T1 ngủ trên nệm. Lúc này B nằm nghiêng qua trái, cháu T1 nằm nghiêng qua phải đối diện với Ba, Ba chủ động dùng tay phải ôm sát vào người cháu T1 được khoảng 02-03 phút thì không thấy cháu T1 phản ứng. Lúc này, cháu T1 vẫn đang còn thức và nằm ngửa ra nên Ba ngồi dậy đối diện với cháu T1, B dùng tay phải để sờ bóp 02 ngực của cháu T1 được khoảng 02 phút thì tiếp tục đưa tay phải xuống sờ xung quanh bộ phận sinh dục cháu T1 (qua bên ngoài lớp quần), còn tay trái thì Ba tiếp tục sờ bóp ngực của cháu T1. Được một lúc thì bất ngờ cháu T1 phản kháng, cắn vào 02 tay và vai của Ba, bị cắn nên Ba buông cháu T1 ra và ngủ đến sáng hôm sau thì B đưa cháu T1 và T3 về nhà. Sau khi về nhà, cháu T1 kể lại sự việc bị Lục Văn B xâm hại tình dục cho chị Lý Thị X (là mẹ cháu T1) nghe nên chị X làm đơn tố cáo hành vi của Lục Văn B.

Tại Bản kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 0102/KLTDTE-TTPYĐN ngày 10/02/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ xác định tình trạng của cháu Phùn Thị Yến T1 như sau: Màng trinh: Hình hoa khế, đường kính lỗ trinh 0,9cm. Màng trinh không rách, bờ mép thân và chân màng trinh không phù nề, không xung huyết, không chảy máu.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, ngày 04/3/2025 ông Lục Văn N (là cha ruột Lục Văn B) đã tự nguyện bồi thường tổn thất tinh thần cho cháu Phùn Thị Yến T1 số tiền 90.000.000 đồng. Chị Lý Thị X (là mẹ ruột cháu T1) đã nhận đủ tiền, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đồng thời, đã làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho Lục Văn B.

Tại Cáo trạng số 125/CT-VKSÐQ, ngày 13 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo Lục Văn B về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”, theo quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lục Văn B từ 10 (mười) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

2

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị hại, người giám hộ hợp pháp của bị hại: Bị hại, Người giám hộ hợp pháp của bị hại đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên lời khai của những người này đã có trong quá trình điều tra, không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người giám hộ hợp pháp của bị hại.

[2] Về hành vi của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người giám hộ hợp pháp cho bị hại; Kết luận giám định pháp y về tình dục và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 00 giờ ngày 23/01/2025, tại ấp G, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, Lục Văn B đã 01 lần thực hiện hành vi dâm ô đối với cháu Phùn Thị Yến T1 sinh ngày 27/12/2013, khi cháu T1 mới 11 tuổi 27 ngày. Do đó, bị cáo Lục Văn B đã phạm vào tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”, theo quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Xét hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không chỉ xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của bị hại khi bị hại còn trong độ tuổi chưa phát triển đầy đủ (từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi) mà còn gây ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của bị hại trong cả hiện tại và tương lai. Ngoài ra, hành vi của bị cáo cũng gây những ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, thuần phong mỹ tục của địa phương, gây bất bình trong dư luận nhân dân. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi; Sau khi phạm tội bị cáo

3

tác động gia đình bồi thường tổn thất về tinh thần cho bị hại, được giám hộ hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo, gia đình bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại đã tự nguyện thoả thuận bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tinh thần với số tiền 90.000.000đ. Đến nay, bị hại, người giám hộ hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, quyết định.

[7] Về xử lý vật chứng: Không có nên không đặt ra xem xét, quyết định.

[8] Về tội danh, điều luật, hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Xét ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Lục Văn B thống nhất với tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng và không có ý kiến tranh luận gì về tội danh cũng như về hình phạt, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Lục Văn B biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[11] Bị cáo; bị hại; người giám hộ hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Điều 326, Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 146; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lục Văn B phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lục Văn B: 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/01/2025.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lục Văn B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Lục Văn B có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người giám hộ hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, Người giám hộ hợp pháp của bị hại;
  • - VKSND huyện Định Quán;
  • - TAND, VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Định Quán;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan THA HS có thẩm quyền;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Định Quán;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Đại

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 139/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lục Văn B Điều 146
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger