|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 139/2025/HNGĐ-ST Ngày 25 - 3 - 2025 V/v tranh chấp hôn nhân gia đình về “ Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Chiến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh
- Ông Đặng Văn Tác
- Thư ký phiên toà: ông Trần Thiện Nhân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên sơ cấp
Trong ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 632/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024, về tranh chấp hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST- HN ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Quyết định Hoãn phiên toà số 24/2025/QĐST - HNGĐ, ngày 18/3/2025, giữa:
- Nguyên đơn: chị Huỳnh Bội H, sinh năm 1983.
- Bị đơn: anh Trương Văn T, sinh năm 1978.
Nơi cư trú: ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre. Số điện thoại: 0378.300.xxx;
Nơi cư trú: khóm C, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0395.646.xxx;
(chị H xin vắng mặt, anh T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Căn cứ theo đơn khởi kiện, biên bản hòa giải chị Huỳnh Bội H trình bày như sau:
Chị và anh T tự quen biết, tìm hiểu nhau thời gian được hai bên gia đình đồng ý, có tổ chức lễ cưới năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 27/2006 ngày 13 tháng 3 năm 2006.
Sau khi cưới vợ chồng buôn bán tại thị trấn P, huyện P, đến khoảng năm 2021 thì vợ chồng nghỉ buôn bán về tỉnh Bến Tre sinh sống, quá trình chung sống thường xảy ra mâu thuẫn về chuyện tiền bạc trong gia đình do anh T cờ bạc gây nợ, chị phải nhiều lần ra tiền trả nợ cho anh T, nên từ đó vợ chồng bất đồng quan điểm và thường xuyên cãi nhau, anh T không có trách nhiệm với gia đình, tính tình cáu gắt thường xuyên chửi mắng chị, chị nhiều lần khuyên và cho nhiều cơ hội nhưng anh T không thay đổi, kéo dài đến tháng 9/2022 thì vợ chồng đến tỉnh Tây Ninh để buôn bán nhưng được vài tháng thì anh T lại tiếp tục cờ bạc gây nợ, chị không thể chịu đựng được nữa nên đến 30/4/2023 thì chị bỏ về tỉnh Bến Tre sinh sống còn anh T trở về tỉnh An Giang, từ đó vợ chồng ly thân. Quá trình ly thân cũng mâu thuẫn, không hàn gắn được vì anh T chỉ gọi điện chửi mắng chị, nay tình cảm không còn chị yêu cầu được ly hôn với anh Trương Văn T.
- Về con chung: có 02 con chung tên Trương Huỳnh Bảo C, sinh ngày 05/12/2006 (đã thành niên) và Trương Huỳnh Thủy T1, sinh ngày 08/6/2009, hiện 02 con chung do chị đang nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Trương Văn T cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết
* Bị đơn anh Trương Văn T trình bày:
Về mâu thuẫn của anh và chị Huỳnh Bội H xảy ra nhiều chuyện nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc do anh nhiều lần cờ bạc gây nợ khiến chị H phải đứng ra trả, nay anh thống nhất với trình bày của chị H về thời gian kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn và thời gian ly thân, vợ chồng đã ly thân từ tháng 4 năm 2023 cho đến nay. Nay chị H yêu cầu ly hôn với anh thì anh không đồng ý ly hôn vì anh còn thương vợ con.
- Về con chung: có 02 con chung tên Trương Huỳnh Bảo C, sinh ngày 05/12/2006 (đã thành niên) và Trương Huỳnh Thủy T1, sinh ngày 08/6/2009, hiện 02 con chung do chị Huỳnh Bội H đang nuôi dưỡng. Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H thì anh đồng ý tiếp tục giao 02 con cho chị H nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu toà án giải quyết
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Chị H có đơn xin vắng mặt khi xét xử, chị có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, anh T được tống đạt triệu tập đến lần thứ 2 để nghe xét xử, nhưng anh không có mặt, do đó đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xử vắng mặt đương sự theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự
- Về nội dung: Hôn nhân của anh, chị được xác lập do hai ngườ tự tìm hiều, cha mẹ hai bên đồng ý có tổ chức lễ cưới năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang ngày 13 tháng 3 năm 2006, thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến tháng 04/2023 thì phát sinh mâu thuẩn trong cuộc sống, do anh T tham gia tệ nạn xã hội gây nợ nần, không quan tâm chăm sóc gia đình từ đó vợ chồng ly thân mỗi người sống mỗi nơi, anh T cũng thừa nhận mâu thuẩn vợ chồng xuất phát do anh gây ra, anh cho rằng còn thương yêu vợ con, nhưng sau khi ly thân anh không chủ động hàn gắn mà điện thoại gây khó khăn cho cuộc sống chị H và các con, chị H cho rằng tình cảm vợ chồng không còn không thể hàn gắn phù hợp với lời trình bày của ông Huỳnh Vạn T2 (cha ruột chị H), từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, Vì vậy đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H theo Điều 56 Luật HNGĐ năm 2014
- Về con chung: có 02 con chung tên Trương Huỳnh Bảo C, sinh ngày 05/12/2006 (đã thành niên) và Trương Huỳnh Thủy T1, sinh ngày 08/6/2009, hiện 02 con chung do chị H đang nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Trương Văn T cấp dưỡng cho con, anh T cũng đồng ý. Nhận thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, chị H yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung, anh T cũng đồng ý. Cháu C đã thành niên tự lao động nuôi sống bản thân, cháu T1 đang đi học cháu có nguyện vọng sống với mẹ cháu cũng được chăm sóc chu đáo ổn định, do đó đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị H, giao cháu T1 cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, anh T không phải cấp dưỡng cho cháu trúc.
- Về tài sản và nợ chung: không có tranh chấp nên không giải quyết
Buộc các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị H có đơn xin vắng mặt khi xét xử, chị có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, anh T được tống đạt triệu tập đến lần thứ 2 để nghe xét xử, nhưng anh không có mặt, vì vậy HĐXX xử vắng mặt đương sự theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các bên.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh T cư trú: TT P, huyện P, tỉnh An Giang. Nên chị H khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng Dân sự.
[1.3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: chị H yêu cầu ly hôn và giải quyết việc nuôi con khi ly hôn, nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “ Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung:
Xét chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, hôn nhân của anh, chị được xác lập năm 2006 do hai người tự tìm hiều, được cha mẹ hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn, sau khi cưới vợ chồng sinh sống mua bán nhiều nơi, đến tháng 04/2023 thì phát sinh mâu thuẩn trong cuộc sống, do anh T tham gia tệ nạn xã hội gây nợ nần, không quan tâm chăm sóc gia đình từ đó vợ chồng ly thân mỗi người sống mỗi nơi, anh T cũng thừa nhận mâu thuẩn vợ chồng xuất phát do anh gây ra, anh cho rằng còn thương yêu vợ con, nhưng sau khi ly thân anh không chủ động hàn gắn mà điện thoại gây khó khăn cho cuộc sống chị H và các con, chị H cho rằng tình cảm vợ chồng không còn không thể hàn gắn phù hợp với lời trình bày của ông Huỳnh Vạn T2 (cha ruột chị H), từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, Vì vậy HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H theo Điều 56 Luật HNGĐ năm 2014
- Về con chung: có 02 con chung tên Trương Huỳnh Bảo C, sinh ngày 05/12/2006 (đã thành niên) và Trương Huỳnh Thủy T1, sinh ngày 08/6/2009, hiện 02 con chung do chị H đang nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Trương Văn T cấp dưỡng cho 2 con, anh T cũng đồng ý. Xét thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, chị H yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung, anh T cũng đồng ý. Cháu C đã thành niên tự lao động nuôi sống bản thân, cháu T1 đang đi học cháu có nguyện vọng sống với mẹ cháu cũng được chăm sóc chu đáo ổn định, do đó HĐXX chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị H, giao cháu T1 cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, anh T không phải cấp dưỡng cho cháu trúc.
- Về quan hệ tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Các bên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí: chị Huỳnh Bội H là người xin ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 56 và Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự;
- Căn cứ Điều 26; Điều 27; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Huỳnh Bội H đối với anh Trương Văn T
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Bội H được ly hôn với anh Trương Văn T
- Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Trương Huỳnh Thủy T1, sinh ngày 08/6/2009, cho chị Huỳnh Bội H chăm sóc, nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, anh Trương Văn T không phải cấp dưỡng cho con (cháu T1).
- Về quan hệ tài sản và nợ chung: không đặt ra để giải quyết
- Về án phí sơ thẩm: chị Huỳnh Bội H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0011550 ngày 31/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, anh Trương Văn T không phải chịu án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Mỹ T3 – Đặng Văn T4 |
Bùi Văn C1 |
Bản án số 139/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 139/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
