TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 139/2025/DS-PT Ngày 13-3-2025 V/v tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đinh Thị Mộng Tuyết |
| Các Thẩm phán: | Bà Trần Thị Thắm |
| Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền; |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Phước - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 và 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 769/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 128A/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 66/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1989; địa chỉ: T, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1969 (chết ngày 19/5/2021).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn:
- Bà Lợi Bích H1, sinh năm 1973; địa chỉ: số E, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Ông Nguyễn Tân V, sinh năm 1998, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Nguyễn Tân Q1, sinh năm 2001, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Nguyễn Tân P, sinh năm 2005, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Cháu Nguyễn Ngọc Q2, sinh năm 2014; địa chỉ: số A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bà Lợi Bích H1: Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1952; địa chỉ: 3, khu phố H, L, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 17/12/2024), có mặt.
Ông V, ông Q1, ông P cùng địa chỉ: số A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: số E, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Ngọc Q2: Bà Lợi Bích H1, sinh năm 1973; địa chỉ: số E, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo pháp luật, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1955; địa chỉ: số A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1957; địa chỉ: số H, khu phố Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Nguyễn Thị Bạch L, sinh năm 1961; địa chỉ: số A, Đại lộ B, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Ông Nguyễn Tuấn G, sinh năm 1992; địa chỉ: số G, ấp A, xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1963, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1987, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thủy T1, sinh năm 1992, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Anh T2, sinh năm 1984; địa chỉ: số H, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1979; địa chỉ: thôn C, xã Đ, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh; địa chỉ liên hệ: ô 52, DC A, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Ông Trình Thế L1, sinh năm 1979; địa chỉ: số I, đường H, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Đồng Văn H4, sinh năm 1979; địa chỉ: thôn D, xã H, huyện P, Thành phố Hà Nội; địa chỉ liên hệ: ô A, DC 19 khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Tổng Công ty Đ1 (B2); địa chỉ: tầng I, tòa nhà W, số A, đường H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Bà Vũ Thị N1, sinh năm 1987; địa chỉ: thôn D, xã H, huyện P, Thành phố Hà Nội; địa chỉ: ô A, DC A, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Văn phòng Thừa Phát lại thành phố D; địa chỉ: số B, đường B, Trung tâm hành chính D, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Bà Phạm Thị Thu H5, sinh năm 1979; địa chỉ: số I, đường H, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Ngô Thị D, sinh năm 1981; địa chỉ: ô F, TĐC, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị Bạch L: Ông Nguyễn Tuấn G, sinh năm 1992; địa chỉ: số G, ấp A, xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 13/6/2024 và ngày 27/6/2024), có mặt.
Cùng địa chỉ: T, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Ngọc T4 – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện hợp pháp của ông Phạm Ngọc T4: Ông Hồ Đại T5, sinh năm 1969 – Chức vụ: Giám đốc điều hành Phòng Q4, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 84/2024/UQ/IDC-QLDD ngày 09/7/2024), có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hồng Q3 – Chức vụ: Trưởng Văn phòng, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Lợi Bích H1, sinh năm 1973; địa chỉ: số E, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Nguyễn Tân V, sinh năm 1998, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Nguyễn Tân Q1, sinh năm 2001, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Nguyễn Tân P, sinh năm 2005, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1965; địa chỉ: số G, ấp A, xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Cùng địa chỉ: số A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên lạc: số A, Đại lộ B, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người kháng cáo: người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Văn Q là bà Lợi Bích H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nộp, các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn thống nhất trình bày:
Về quan hệ huyết thống: Ông Nguyễn Văn S (chết năm 1989) và bà Nguyễn Thị H6 (chết năm 1994) là vợ chồng. Ông S, bà H6 chết không để lại di chúc. Ông S, bà H6 có 6 người con gồm bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn L2 (ông L2 chết năm 2001 có vợ là bà Nguyễn Ngọc T và các con là ông Nguyễn Huy H, bà Nguyễn Thị Anh T2, bà Nguyễn Thị Hồng N, bà Nguyễn Thị Thủy T1), bà Nguyễn Thị Bạch L, bà Nguyễn Thị Đ (chết năm 1992 có chồng tên Nguyễn Văn M, bà Đ và ông M có 01 người con tên Nguyễn Tuấn G) và ông Nguyễn Văn Q (chết ngày 19/5/2021); ông Q có vợ tên Lợi Bích H1 và có 04 người con tên Nguyễn Tân V, Nguyễn Tân Q1, Nguyễn Tân P, Nguyễn Ngọc Q2.
Về nguồn gốc đất tranh chấp: trước năm 1975, cụ H6 được cha, mẹ ruột cho một phần đất diện tích 4.625m² tại ấp C, xã B, huyện T (toàn bộ đất này hiện nay nằm trong Khu công nghiệp V). Năm 1983, ông L2, bà T về làm nhà ở và canh tác trên đất. Năm 1994, bà H6 về ở chung với ông L2, bà T và qua đời tại đây. Năm 1995, toàn bộ khu đất và tài sản trên đất bị quy hoạch để xây dựng Khu công nghiệp VSIP. Năm 2006, bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B và bà Nguyễn Ngọc T ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Q đại diện giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản của bà H6 để lại. Năm 2015, ông Q đã nhận tiền bồi thường 344.972.200 đồng, nhận quyền sử dụng đất hoán đổi 300m² và hỗ trợ tái định cư 300m², đất
thuộc lô DC 65, ô 35, ô 36, ô 37, ô 38. Sau khi nhận tài sản ông Q chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T3, ông H4 và ông L1. Đến ngày 20/12/2018, ông Q được Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do đó, ông H đại diện cho chi ông Nguyễn Văn L2 khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với diện tích đất hoán đổi 300m² và yêu cầu chia tài sản chung đối với diện tích đất được hỗ trợ tái định cư là 300m² chia cho chi ông L2 được hưởng bằng hiện vật diện tích đất 150m², nếu phần chia vượt quá phần được hưởng sẽ thanh toán chênh lệch cho các thừa kế khác. Đồng thời, ông H yêu cầu chia thừa kế đối với số tiền bồi thường quyền sử dụng đất 163.375.000 đồng và yêu cầu ông Nguyễn Văn Q giao lại toàn bộ số tiền bồi thường giải tỏa tài sản thuộc quyền sở hữu của gia đình ông Nguyễn Văn L2 và bà Nguyễn Ngọc T gồm: bồi thường nhà 36.669.600 đồng, bồi thường công trình phụ 4.740.000 đồng, bồi thường cây trồng 55.300.000 đồng trợ cấp nhân khẩu 6.000.000 đồng. Ngày 26/4/2019, ông H có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu chia thừa kế tiền bồi thường và tiền bồi thường giải tỏa tài sản nêu trên.
Ngày 10/5/2024, ông H có đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết được nhận giá trị kỷ phần thừa kế là 1.800.000.000 đồng và số tiền mặt 45.185.266 đồng như tại Bản án phúc thẩm số 24/2020/DS-PT ngày 24/02/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, hiện nay gia đình và ông đã được nhận đủ tiền bồi thường trên. Ngoài ra ông không có yêu cầu nào khác.
Nguyên đơn không đồng ý yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn Q về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01171/TG ngày 13/12/2007 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) T cấp cho bà Nguyễn Ngọc T và công nhận quyền sử dụng đất diện tích 100m² đã được cấp cho bà T là di sản của cụ Nguyễn Thị H6 để lại và chia cho 06 đồng thừa kế của cụ Nguyễn Thị H6. Bởi vì nguồn gốc đất là do cha mẹ ông H là bà Nguyễn Ngọc T thuộc diện chính sách, hộ nghèo của Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) B, theo đề nghị của chính quyền địa phương, Tổng Công ty B3 đã cấp hỗ trợ cho bà T 100m² đất tái định cư. Phần đất này hoàn toàn không liên quan đến hồ sơ bồi thường số 385/BB-BT ngày 02/10/2005 mà Ban chỉ đạo bồi thường giải tỏa, Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) B lập cho ông Nguyễn Văn Q.
Đối với yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Tuấn G, ông H thống nhất không có ý kiến gì.
Đối với yêu cầu độc lập của ông Trình Thế L1 và ông Nguyễn Văn T3 yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Q với ông Trình Thế L1, ông Nguyễn Văn T3 có hiệu lực, ông H không đồng ý.
Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc định giá nguyên đơn tự nguyện chịu.
Tại bản tự khai, các lời khai trong quá trình tố tụng người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Văn Q gồm: Bà Lợi Bích H1, ông Nguyễn Tân V, Nguyễn Tân Q1, Nguyễn Tân P và Nguyễn Ngọc Q2 do bà Lợi Bích H1 là người đại diện hợp pháp thống nhất trình bày:
Về quan hệ huyết thống của ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H6: các đương sự thống nhất theo trình bày của nguyên đơn, không có ý kiến gì bổ sung.
Ông Nguyễn Văn Q có vợ là bà Lợi Bích H1; ông Q chết ngày 19/5/2021. Ông Q và bà H1 có 04 người con tên: Nguyễn Tân V, sinh năm 1998; Nguyễn Tân Q1, sinh năm 2001, Nguyễn Tân P, sinh năm 2005 và Nguyễn Ngọc Q2, sinh năm 2014. Ngoài 04 người con nêu trên, ông Q không còn người con nuôi hay con riêng nào khác, ông Q cũng không có người vợ nào khác ngoài bà H1.
Về nguồn gốc đất tranh chấp thống nhất trình bày trước đây của ông Nguyễn Văn Q: năm 1993 cụ Nguyễn Thị H6 làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đất hương quả của ông bà để lại), sử dụng trước và sau giải phóng có đăng ký 299, có xác nhận của ban quản lý xã. Năm 1994, Ủy ban nhân dân xã B vào lập biên bản xác minh nguồn gốc khuôn viên nhà và đất để cấp cho bà Nguyễn Thị H6, đến năm 1995 trả hồ sơ xin cấp đất về do nằm trong vùng quy hoạch dự án khu công nghiệp V - Singapore. Năm 2000, những người đại diện khu giải tỏa quy hoạch xác minh và đo đạc nhà đất, công trình phụ ông Nguyễn Văn Q nhận biên bản bồi thường và cũng là người đứng ra khiếu nại đòi quyền hợp pháp tài sản của bà Nguyễn Thị H6 khi bị quy hoạch từ năm 2000 đến năm 2015 mới kết thúc sự việc.
Ông Nguyễn Văn L2, bà Nguyễn Ngọc T cùng các con lúc trước ở xã B, thành phố T do nghề nghiệp, nhà cửa không ổn định nên gia đình cho nhập khẩu để các con bà T có điều kiện xin học ở trường B4. Do đó, không có cơ sở xác định tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn L2, bà Nguyễn Ngọc T; hơn nữa khi đó chủ hộ là bà Nguyễn Thị H3. Nay các ông bà thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thống nhất cách chia thừa kế theo Bản án số 24/2020/DS-PT ngày 24/02/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Bà H1, ông V, ông Q1, ông P và cháu Q2 (do bà H1 là người đại diện hợp pháp) vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn Q như sau: hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01171/TG ngày 13/12/2007 do Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thị xã T) cấp cho bà Nguyễn Ngọc T. Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 100m² thuộc thửa 1955, tờ bản đồ số 06, diện tích 100m² tại khu phố B, phường T, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương là tài sản của bà
Nguyễn Thị H6 để lại và chia cho 06 đồng thừa kế của bà Nguyễn Thị H6 là bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị Bạch L, bà Nguyễn Thị Đ (do Nguyễn Tuấn G đại diện nhận), ông Nguyễn Văn Q và những người thừa kế của ông Nguyễn Văn L2.
Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Tuấn G thì bà H1 cùng các con là V, Q1, P, Q2 (do bà H1 là người đại diện hợp pháp) thống nhất theo quyết định tại Bản án số 24/2020/DS-PT ngày 24/02/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Ngày 25/9/2014, ông Q đã ký cam kết chuyển nhượng cho ông Trình Thế L1 và ông Nguyễn Văn T3 mỗi người 300m², tổng số tiền chuyển nhượng là 3.000.000.000 đồng, ông Q đã nhận 2.700.000.000 đồng, số tiền còn lại 300.000.000 đồng sẽ thanh toán khi hoàn tất toàn bộ thủ tục cho ông L1, ông T3. Nay đối với yêu cầu độc lập của ông Trình Thế L1 và ông Nguyễn Văn T3 yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Q với ông Trình Thế L1, ông Nguyễn Văn T3 có hiệu lực thì bà H1 và các con là V, Q1, P, Q2 (do bà H1 đại diện) không đồng ý yêu cầu của ông T3, ông L1.
Tại bản tự khai; đơn yêu cầu độc lập và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị Bạch L, ông Nguyễn Tuấn G do ông Nguyễn Tuấn G là người đại diện hợp pháp thống nhất trình bày:
Thống nhất về quan hệ huyết thống như trình bày của nguyên đơn và bị đơn; thống nhất diện tích đất 600m² do được hoán đổi, được hỗ trợ tái định cư và số tiền 344.972.200 đồng là di sản của cụ H6, cụ S để lại.
Bà H3, bà B, ông G có yêu cầu độc lập như sau:
- Tuyên bố giấy cam kết lập ngày 01/10/2015 về việc ông Nguyễn Văn Q chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T3 diện tích đất thuộc Ô 37, Ô 38 lô DC 65, đường D khu dân cư V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và giấy cam kết ngày 01/10/2015 về việc ông Nguyễn Văn Q chuyển nhượng cho ông Trình Thế L1 diện tích đất thuộc Ô 35, Ô 36 lô DC 65, đường D khu dân cư V, phường T, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương là vô hiệu;
- Yêu cầu Tòa án phân chia thừa kế số tiền 271.111.600 đồng thành 06 kỷ phần bằng nhau, mỗi người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ H6, cụ S hưởng 01 kỷ phần.
- Yêu cầu Tòa án phân chia thừa kế phần đất diện tích 600m² thuộc các thửa 317, 318, 319, 320 tờ bản đồ 201 thành 06 kỷ phần bằng nhau, mỗi người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ H6, cụ S hưởng 01 kỷ phần; trong đó bà
Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị Bạch L, ông Nguyễn Tuấn G yêu cầu được nhận diện tích đất 450m².
- Yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 09139 (thuộc thửa 317, tờ bản đồ 201, diện tích 150m²), số CH 09138 (thuộc thửa 319, tờ bản đồ 201, diện tích 150m²), số CH 09140 (thuộc thửa 318 tờ bản đồ 201, diện tích 150m²) và số CH 09141 (thuộc thửa 320, tờ bản đồ 201, diện tích 150m²), do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương cấp cùng ngày 20/12/2018 cho ông Nguyễn Văn Q.
- Buộc ông Nguyễn Văn T3, ông Trình Thế L1 và ông Đồng Văn H4 tháo dỡ nhà tạm, công trình phụ (kết cấu, vách gạch không tô, mái tôn, vách tường + tôn trên phần đất thuộc Ô 37, Ô 38 lô DC 65 và Ô 35, 36 lô DC 65, đường D khu dân cư V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn Q, thì ông G với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người đại diện hợp pháp cho bà B, bà L và bà H3 hoàn toàn thống nhất yêu cầu chia 100m² đất thuộc thửa 1955, tờ bản đồ số 06 khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương thành 06 phần bằng nhau theo quy định của pháp luật.
Bà L thống nhất yêu cầu của bà H3, bà B, ông G; bà L yêu cầu được nhận kỷ phần bằng hiện vật, không tặng cho bà H3 như đã trình bày.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bà H3, bà B, bà L là ông Nguyễn Tuấn G có ý kiến: thay đổi yêu cầu độc lập, thống nhất theo như quyết định tại Bản án số 24/2020/DS-PT ngày 24/02/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Ông G trình bày hiện nay bà H3, bà B, bà L và ông G đang quản lý, sử dụng các thửa đất 317, 318, 320 tờ bản đồ số 201 thuộc khu tái định cư V-S, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, mọi người đã liên hệ Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Bình Dương để được sang tên theo quy định, tuy nhiên do có quyết định giám đốc thẩm của Tòa án cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nên Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Bình Dương đã trả lại hồ sơ.
Bà H3, bà B, Bà L và ông G cùng thống nhất là bà L đã đứng ra đại diện cho các ông bà thanh toán toàn bộ số tiền 1.800.000.000 đồng cho người thừa kế của ông Nguyễn Văn L2 và thanh toán 100.000.000 đồng tiền chậm thi hành án cho ông Nguyễn Huy H đại diện nhận. Ngoài ra, các ông bà không còn ý kiến nào khác.
Theo bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T3, ông Trình Thế L1 thống nhất trình bày:
Ngày 01/10/2015, ông T3, ông L1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Q, mỗi người nhận chuyển nhượng diện tích 300m² đất thổ cư tại ô 35, 36, 37 và 38 lô DC 65 đường DA7, khu dân cư V, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, giá chuyển nhượng 300m² là 2.200.000.000 đồng (hai tỷ hai trăm triệu đồng). Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có lập vi bằng giữa ông T3, ông L1 với ông Nguyễn Văn Q ngày 01/10/2015 tại Văn phòng T số 249/VB-TPL nhưng trên Vi bằng chỉ ghi số tiền chuyển nhượng là 1.500.000.000 đồng. Tại buổi lập vi bằng, ông T3, ông L1 mỗi người đã giao cho ông Q số tiền 2.050.000.000 đồng nhưng chỉ ghi nhận trên Vi bằng là 1.350.000.000 đồng. Số tiền còn lại của mỗi người là 150.000.000 đồng sẽ trả hết khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, các bên còn ký cam kết chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Q đối với ông Nguyễn Văn T3, ông Trình Thế L1. Ông T3 và ông L1 thừa nhận việc thỏa thuận giá và giao nhận số tiền cho ông Q cao hơn so với Vi bằng nhưng các bên không lập biên bản giao nhận, không có chứng cứ chứng minh.
Khi nhận chuyển nhượng ông T3 và ông L1 biết nguồn gốc đất được giao là đất tái định cư, ông Q chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất chuyển nhượng. Khi ông Q chuyển nhượng đất ông T3 và ông L1 thấy có giấy ủy quyền ngày 15/5/2006 có xác nhận của Chủ tịch UBND phường B trong đó các chị em trong gia đình ủy quyền cho ông Q toàn quyền quyết định, các chị em trong gia đình ông Q đều biết và không ai có ý kiến. Ông Q đã giao đất cho ông T3 và ông L1 quản lý, sử dụng, ông L1 đã xây dựng nhà tạm cấp 4 trên lô đất Ô 38 và xây móng nhà thuộc Ô 37. Ông T3 và ông L1 cho rằng việc nhận chuyển nhượng đất của mình là ngay tình, tiền chuyển nhượng đã thanh toán phần lớn, chỉ còn lại số tiền 150.000.000 đồng và đã nhận đất, xây dựng nhà để quản lý, sử dụng đất. Ông T3 và ông L1 yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Q là có hiệu lực, công nhận quyền sử dụng đất Ô 37, 38 nay là thửa 317, 318 tờ bản đồ 201 cho ông T3, công nhận quyền sử dụng đất Ô 35, 36 nay là thửa 319, 320, tờ bản đồ 201 cho ông L1.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đồng Văn H4 trình bày:
Ông H4 cùng ông L1 nhận chuyển nhượng chung Ô 35, 36 của ông Q diện tích 300m² giá chuyển nhượng 1.500.000.000 đồng ông H4 và ông L1 mỗi người chịu 1/2 nhưng giao cho ông L1 đứng tên. Ông H4 yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L1 với ông Q công nhận quyền sử dụng đất Ô 35, 36 nay là thửa 319, 320 tờ bản đồ 201 cho ông L1. Không yêu cầu giải quyết quyền sử dụng đất chung với ông L1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc T trình bày:
Bà Nguyễn Ngọc T thống nhất toàn bộ lời trình bày của nguyên đơn. Không đồng ý đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về việc chia thừa kế đối với diện tích 100m² đất tái định cư.
Ông Q chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T3 và ông L1 thì bà T không biết, đến năm 2017 bà T biết và ông H thống nhất thỏa thuận với ông Q giao cho gia đình bà số tiền 500.000.000 đồng vào tháng 12/2017 nhưng ông Q không thực hiện nên ông H khởi kiện tranh chấp thừa kế.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà thống nhất với yêu cầu hiện nay của ông Nguyễn Huy H cụ thể: thống nhất đối với Bản án phúc thẩm số 24/2020/DS-PT ngày 24/02/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. Cụ thể chi của ông L2 chỉ yêu cầu được nhận giá trị kỷ phần thừa kế là 1.800.000.000 đồng và số tiền mặt 45.185.266 đồng, hiện nay chi của ông L2 đã được nhận đủ. Ngoài ra bà không có yêu cầu nào khác.
Đối với yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn Q bà T vẫn giữ nguyên ý kiến, bà không đồng ý.
Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Tuấn G, bà Nguyễn Thị Bạch L bà thống nhất toàn bộ yêu cầu độc lập trên.
Đối với yêu cầu độc lập người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T3, ông Trình Thế L1 bà không đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng N, bà Nguyễn Thị Anh T2 và bà Nguyễn Thị Thủy T1 trình bày: Thống nhất với trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thống nhất với ý kiến của bà T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tổng Công ty Đ1 (B2) trình bày:
Đất ông Q được Tổng công ty giao đang chờ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo thủ tục chung, trên cơ sở giấy ủy quyền của chị em trong gia đình, có xác nhận của chính quyền địa phương ngày 15/5/2006.
Kể từ ngày bàn giao đất 09/9/2015, ông Q có toàn quyền quyết định đối với diện tích 600m² đất. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trễ do điều chỉnh quy hoạch 1/500 của Ủy ban nhân dân tỉnh B.
Hiện tại, ông Q đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mọi nghĩa vụ của ông Q đối với Tổng công ty B3 đã thực hiện xong. Hiện nay, đối với 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 317, 318, 319, 320 tờ bản đồ 201 đã được Tổng công ty B3 bàn giao bản chính 03 giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho đồng sở hữu gồm 4 người là bà Nguyễn Thị Bạch L, bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Tuấn G - là người thừa kế thế vị của bà Nguyễn Thị Đ gồm 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 03 ô là 36, 37, 38 tương ứng các số CO 952044, CO 952041, CO 952042 vào ngày 30/12/2021. Còn lại 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO952043, ô số 35, thửa 319 Tổng công ty đang lưu giữ.
Đối với yêu cầu xác định 100m² đất là di sản của cụ H6 và chia thừa kế toàn bộ diện tích đất trên cho 6 thừa kế của cụ H6 và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà T thì Tổng công ty không đồng ý bởi vì bà T thuộc diện chính sách hộ nghèo, theo đề nghị của chính quyền địa phương Tổng công ty đã hỗ trợ cấp cho bà T 100m² đất tái định cư, phần đất này không liên quan đến hồ sơ bồi thường diện tích đất do cụ H6 bị thu hồi làm khu Công nghiệp VSIP.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Thu H5 trình bày: bà là vợ ông L1, bà thống nhất với nội dung trình bày và yêu cầu của ông L1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị D trình bày: bà D là vợ của ông T3, bà D thống nhất toàn bộ trình bày của ông Nguyễn Văn T3.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị N1 trình bày: bà N1 là vợ của ông Đồng Văn H4, bà N1 thống nhất toàn bộ trình bày của ông Đồng Văn H4.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lợi Bích H1 trình bày: bà Lợi Bích H1 là vợ của ông Nguyễn Văn Q. Bà H1 và ông Q có 04 người con. Đối với tranh chấp giữa ông Q và các con cụ H6, bà và các con không có yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tân Q1, ông Nguyễn Tân P, ông Nguyễn Tân V trình bày: Các ông là con của ông Q và bà H1. Đối với tranh chấp giữa ông Q và các con cụ H6, các ông không có yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng T trình bày:
Văn phòng T có lập vi bằng ghi nhận sự kiện pháp lý ông L1 và ông T3 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Q diện tích 600m² và ghi nhận sự kiện ông L1 và ông T3 mỗi người giao số tiền 1.350.000.000 đồng cho ông Q đồng thời ông Q xác nhận đã nhận đủ. Văn phòng T không có yêu cầu gì đối với vụ án trên và có yêu cầu được giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M trình bày: ông là cha của Nguyễn Tuấn G, ông không có ý kiến và yêu cầu gì, mọi vấn đề do con ông là Nguyễn Tuấn G quyết định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố T trình bày: Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01171/TG ngày 12/12/2007 cho bà T và việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH09138,
CH09139, CH09140, CH09141 cho ông Q là đúng trình tự, thủ tục, phù hợp quy định pháp luật.
- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 128A/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Huy H về yêu cầu chia thừa kế tài sản của cụ Nguyễn Thị H6 để lại.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn Q (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng gồm bà Lợi Bích H1, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tân Q1, Nguyễn Tân P, Nguyễn Ngọc Q2) về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H1171/TG ngày 13/12/2007 của Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho bà T và công nhận quyền sử dụng đất diện tích 100m² đã được cấp cho bà T là di sản cụ H6 để lại và chia cho 06 người thừa kế của cụ H6.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trình Thế L1 và ông Nguyễn Văn T3 về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo các bản cam kết ngày 01 tháng 10 năm 2015 được Văn phòng Thừa phát lại thành phố D lập Vi bằng ngày 01 tháng 10 năm 2015.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Q và ông Trình Thế L1 theo Bản cam kết ngày 01 tháng 10 năm 2015 được Văn phòng T, tỉnh Bình Dương lập Vi bằng số 248/VP-TPL ngày 01 tháng 10 năm 2015 vô hiệu.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Q và ông Nguyễn Văn T3 theo Bản cam kết ngày 01 tháng 10 năm 2015 được Văn phòng T, tỉnh Bình Dương lập Vi bằng số 249/VP-TPL ngày 01 tháng 10 năm 2015 vô hiệu.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Q là bà Lợi Bích H1, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tân Q1, Nguyễn Tân P, Nguyễn Ngọc Q2 có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn T3 số tiền là 3.780.000.000 đồng.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Q là bà Lợi Bích H1, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tân Q1, Nguyễn Tân P, Nguyễn Ngọc Q2 có trách nhiệm trả cho ông Trình Thế L1 số tiền là 3.780.000.000 đồng.
Ông Nguyễn Văn T3 có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn Q (do ông Q được đại diện cho các đồng thừa kế nhận để chia thừa kế) nay người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Q là bà Lợi Bích H1, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tân Q1, Nguyễn Tân P, Nguyễn Ngọc Q2 diện tích đất 300m² thuộc thửa 317, 318 (Ô 37, 38), tờ bản đồ số 201; lô DC 65 Khu tái định cư V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Ông Trình Thế L1 có trách nhiệm giao trả cho ông Nguyễn Văn Q (do ông Q được đại diện cho các đồng thừa kế nhận để chia thừa kế) nay người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Q là bà Lợi Bích H1, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tân Q1, Nguyễn Tân P, Nguyễn Ngọc Q2 diện tích đất 300m² thuộc thửa 319, 320 (Ô 35, 36), tờ bản đồ số 201; lô DC 65 khu tái định cư V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đồng Văn H4 về việc không yêu cầu giải quyết về quyền sử dụng đất với ông Trình Thế L1 và tài sản xây dựng trên đất đối với Ô 35, lô DC, nay là thửa 319, tờ 201 tại khu tái định cư V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đồng Văn H4 tự nguyện tháo dỡ di dời nhà tạm kết cấu khung cột sắt, mái lợp tôn, vách tôn + gạch xây, nền xi măng, diện tích 67,5m² tại thửa 319, tờ 201 tại khu tái định cư V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền nêu trên thì người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi bằng mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Q là bà Lợi Bích H1, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tân Q1, Nguyễn Tân P, Nguyễn Ngọc Q2; bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị Bạch L và ông Nguyễn Tuấn G có quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ chậm trả và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/11/2024 người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Văn Q là bà Lợi Bích H1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bà H1 xác định chỉ kháng cáo đối với một phần bản án sơ thẩm liên quan đến yêu cầu độc lập của ông Trình Thế L1 và ông Nguyễn Văn T3, xem xét nghĩa vụ trả tiền của các thừa kế ông Q theo quy định pháp luật. Các phần còn lại, bà H1 không kháng cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà Lợi Bích H1, tuyên nghĩa vụ trả lại tiền cho ông Trình Thế L1 và ông Nguyễn Văn T3 trong phạm vi di sản do ông Q để lại theo quy định tại khoản 1 Điều 615 của Bộ luật Dân sự. Những phần còn lại của bản án sơ thẩm không kháng cáo, phát sinh hiệu lực pháp luật.
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại Tòa án cấp phúc thẩm, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn có đơn rút yêu cầu phản tố. Tại phiên tòa, nguyên đơn ông H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T (trực tiếp liên quan đến yêu cầu phản tố của ông Q) vắng mặt, không có ý kiến đối với việc rút yêu cầu trên, tuy nhiên người đại diện hợp pháp của bà H1 xác định, bà H1 đồng ý với các quyết định của bản án sơ thẩm (bao gồm phần phản tố của ông Q) nên trong trường hợp này, xem như việc rút yêu cầu phản tố không được chấp nhận. Người đại diện hợp pháp của bà H1 xác định chỉ kháng cáo phần quyết định của bản án sơ thẩm đối với yêu cầu độc lập của ông Trình Thế L1 và ông Nguyễn Văn T3 liên quan đến nghĩa vụ trả tiền của các thừa kế ông Q theo quy định. Các phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm bà H1 không kháng cáo. Như vậy, đối với phần quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết trong phạm vi nội dung kháng cáo nêu trên.
[2] Các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc phần đất bị thu hồi có diện tích 4.625m² là của cụ Nguyễn Thị H6 được cha mẹ cho. Do phần đất này của cụ H6
nằm trong quy hoạch xây dựng khu Công nghiệp Việt Nam- Singapore nên cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên, bồi thường giải tỏa theo quy định. Theo Biên bản bồi thường số 385/BB-BT ngày 02/10/2005, Văn bản số 120/2018/IDC-PQLĐĐ ngày 21/3/2018 của Tổng Công ty Đ1 (B2) xác nhận về việc hỗ trợ, bồi thường cho quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của cụ H6 bị thu hồi thể hiện: Ông Nguyễn Văn Q đại diện cho các con của cụ H6 nhận 300m² đất hoán đổi và 300m² đất hỗ trợ tái định cư thuộc lô DC65, gồm các Ô: 35, 36, 37, 38, thuộc các thửa đất: 317, 318, 319, 320, tờ bản đồ 201 tại Khu tái định cư V, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương: tiền bồi thường (gốc và lãi) là 334.972.200 đồng. Năm 1994, cụ H6 chết không để lại di chúc. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản của cụ H6 để lại gồm diện tích đất 600m² và số tiền 334.972.200 đồng là có căn cứ.
[3] Ngày 09/9/2015, ông Nguyễn Văn Q nhận bàn giao đất từ Tổng công ty Đ1 (B2) tại Ô: 35, 36, 37, 38 lô DC65. Ngày 01/10/2015, ông Q lập Bản cam kết về việc chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất 300m² thuộc các Ô 37, 38 cho ông Nguyễn Văn T3 với giá 1.500.000.000 đồng và chuyển nhượng cho ông Trình Thế L1 300m² thuộc cá Ô 35, 36 với giá 1.500.000.000 đồng. Cùng ngày, tại Văn phòng T, ông T3 và ông L1 đã thanh toán cho ông Q 2.700.000.000 đồng, số tiền còn lại ông T3 và ông L1 sẽ thanh toán sau khi ông Q đứng tên quyền sử dụng đất và sang tên cho ông T3, ông L1.
[4] Theo Giấy ủy quyền ngày 15/5/2006 thì bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị Bạch L, bà Nguyễn Ngọc T chỉ ủy quyền cho ông Q được toàn quyền giải quyết tất cả mọi vấn đề đất đai do cụ H6 để lại, nội dung giấy ủy quyền không thể hiện ông Q được thay mặt các đồng thừa kế chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản của cụ H6. Mặt khác, giấy ủy quyền này không có sự đồng ý của bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Tuấn G (là những người thừa kế khác của cụ H6). Tại thời điểm ông Q chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T3 và ông L1 thì ông Q chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, đất tranh chấp ông Q chưa được cấp giấy chứng nhận là tài sản chung của các đồng thừa kế của cụ H6, ông Q chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà không có ý kiến của các đồng thừa kế là không đúng. Ông T3 và ông L1 biết việc ông Q chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vẫn ký Bản cam kết về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên không phải là người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngay tình. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Q và ông Trình Thế L1 theo Bản cam kết ngày 01 tháng 10 năm 2015 được Văn phòng T lập Vi bằng số 248/VP-TPL ngày 01 tháng 10 năm 2015 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Q và ông Nguyễn Văn T3 theo Bản cam kết ngày 01 tháng 10 năm 2015 được Văn phòng T lập Vi bằng số 249/VP-TPL ngày 01 tháng 10 năm 2015
vô hiệu là có căn cứ theo quy định tại Điều 122, 124, 127, 128 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Về giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu: Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Q, ông T3 và ông L3 đều có lỗi ngang nhau làm cho hợp đồng, xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu buộc những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Q phải trả lại số tiền mà ông Q đã nhận của ông T3, ông L1 mỗi người là 1.350.000.000 đồng và bồi thường cho ông T3, ông L1 mỗi người số tiền 2.430.000.000 đồng, là có căn cứ theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật Dân sự 2005 và theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, ông Q chết, trong trường hợp này khi tuyên Tòa án cấp sơ thẩm phải áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 615 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tuyên buộc những người thừa kế của ông Q có trách nhiệm trả lại cho ông T3 và ông L1 mỗi người số tiền 3.780.000.000 đồng trong phạm vi di sản do ông Q để lại. Do đó, cần điều chỉnh lại bản án sơ thẩm theo nhận định trên nên kháng cáo của bà H1 là có căn cứ chấp nhận.
[6] Từ những phân tích trên, xét kháng cáo của bà H1 là có căn cứ chấp nhận.
[7] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là phù hợp.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: người kháng cáo không phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Chấp nhận kháng cáo của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Q là bà Lợi Bích H1.
- Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 128A/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (đối với yêu cầu độc lập của ông Trình Thế L1 và ông Nguyễn Văn T3), như sau:
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trình Thế L1 và ông Nguyễn Văn T3 về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
theo các Bản cam kết ngày 01 tháng 10 năm 2015 được Văn phòng Thừa phát lại thành phố D lập Vi bằng ngày 01 tháng 10 năm 2015.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Q và ông Trình Thế L1 theo Bản cam kết ngày 01 tháng 10 năm 2015 được Văn phòng T, tỉnh Bình Dương lập Vi bằng số 248/VP-TPL ngày 01 tháng 10 năm 2015 vô hiệu.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Q và ông Nguyễn Văn T3 theo Bản cam kết ngày 01 tháng 10 năm 2015 được Văn phòng T, tỉnh Bình Dương lập vi bằng số 249/VP-TPL ngày 01 tháng 10 năm 2015 vô hiệu.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Q là bà Lợi Bích H1, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tân Q1, Nguyễn Tân P, Nguyễn Ngọc Q2 có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn T3 số tiền là 3.780.000.000 đồng (ba tỷ bảy trăm tám mươi triệu) trong phạm vi di sản do ông Nguyễn Văn Q để lại.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Q là bà Lợi Bích H1, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tân Q1, Nguyễn Tân P, Nguyễn Ngọc Q2 có trách nhiệm trả cho ông Trình Thế L1 số tiền là 3.780.000.000 đồng trong phạm vi di sản do ông Nguyễn Văn Q để lại.
Ông Nguyễn Văn T3 có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn Q (do ông Q được đại diện cho các đồng thừa kế nhận để chia thừa kế) nay người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Q là bà Lợi Bích H1, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tân Q1, Nguyễn Tân P, Nguyễn Ngọc Q2 diện tích đất 300m² thuộc thửa 317, 318 (Ô 37, 38), tờ bản đồ số 201, lô DC 65 Khu tái định cư V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Ông Trình Thế L1 có trách nhiệm giao trả cho ông Nguyễn Văn Q (do ông Q được đại diện cho các đồng thừa kế nhận để chia thừa kế) nay người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Q là bà Lợi Bích H1, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tân Q1, Nguyễn Tân P, Nguyễn Ngọc Q2 diện tích đất 300m² thuộc thửa 319, 320 (Ô 35, 36), tờ bản đồ số 201; lô DC 65 khu tái định cư V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đồng Văn H4 về việc không yêu cầu giải quyết về quyền sử dụng đất với ông Trình Thế L1 và tài sản xây dựng trên đất đối với Ô 35, lô DC, nay là thửa 319, tờ 201 tại khu tái định cư V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đồng Văn H4 tự nguyện tháo dỡ di dời nhà tạm kết cấu khung cột sắt, mái lợp tôn, vách tôn + gạch xây, nền xi măng, diện tích 67,5m² tại thửa 319, tờ 201 tại khu tái định cư V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền nêu trên thì người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi bằng mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Q là bà Lợi Bích H1, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tân Q1, Nguyễn Tân P, Nguyễn Ngọc Q2 (do bà Lợi Bích H1 đại diện) phải chịu 119.505.185.266 đồng án phí dân sự sơ thẩm trong phạm vi di sản do ông Nguyễn Văn Q để lại, được trừ vào số tiền 2.083.325 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0023109 ngày 13/3/2018 đã được trích chuyển theo biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0046005 ngày 11/5/2020 và biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0034436 ngày 07/5/2020 số tiền 122.844.232 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Trả lại cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Q là bà Lợi Bích H1, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tân Q1, Nguyễn Tân P, Nguyễn Ngọc Q2 (do bà Lợi Bích H1 đại diện) số tiền 5.422.372 đồng theo biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0034436 ngày 07/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương.
- Các phần còn lại của Bản án sơ thẩm số 128A/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã phát sinh hiệu lực pháp luật gồm:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Huy H về yêu cầu chia thừa kế tài sản của cụ Nguyễn Thị H6 để lại.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn Q (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng gồm bà Lợi Bích H1, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tân Q1, Nguyễn Tân P, Nguyễn Ngọc Q2) về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H1171/TG ngày 13/12/2007 của Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho bà T và công nhận quyền sử dụng đất diện tích 100m² đã được cấp cho bà T là di sản cụ H6 để lại và chia cho 06 người thừa kế của cụ H6.
- Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Tuấn G về việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế do cụ Nguyễn Thị H6 để lại gồm diện tích đất 600m² và số tiền 271.111.600 đồng; tuyên giấy cam kết ngày 01/10/2015 ký kết giữa ông Nguyễn Văn Q và ông Trình Thế L1, giữa ông Nguyễn Văn Q và ông Nguyễn Văn T3 vô hiệu.
- Xác định diện tích đất 600m² thuộc các thửa 317, 318, 319, 320, tờ bản đồ số 201 tại khu tái định cư V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và số tiền 271.111.600 đồng là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị H6.
- Chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị H6 như sau:
- Chia cho những người thừa kế của ông Nguyễn Văn L2 (gồm bà Nguyễn Ngọc T, ông Nguyễn Huy H, bà Nguyễn Thị Anh T2, bà Nguyễn Thị Hồng N, bà Nguyễn Thị Thủy T1) do ông Nguyễn Huy H đại diện giá trị kỷ phần thừa kế là 1.800.000.000 đồng (do bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị Bạch L và ông Nguyễn Tuấn G liên đới thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế) và số tiền 45.185.266 đồng.
- Chia cho ông Nguyễn Văn Q (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Q là bà Lợi Bích H1, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tân Q1, Nguyễn Tân P, Nguyễn Ngọc Q2) 01 kỷ phần thừa kế là 90m² và công sức đóng góp 60m², tổng cộng 150m² thuộc thửa đất số 319 (Ô 35, lô DC 65), tờ bản đồ số 201 tại khu tái định cư V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (ký hiệu A có sơ đồ bản vẽ kèm theo) và số tiền là 45.185.266 đồng.
- Chia cho bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị Bạch L và người thừa kế thế vị của bà Nguyễn Thị Đ là ông Nguyễn Tuấn G được quản lý, sử dụng chung 04 kỷ phần thừa kế là quyền sử dụng đất diện tích 450m² thuộc các thửa đất số 317, 318, 320 (các Ô 36, 37, 38, Lô DC 65), tờ bản đồ số 201 tại khu tái định cư V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (ký hiệu B có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- Chia cho bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị Bạch L và người thừa kế thế vị của bà Nguyễn Thị Đ là ông Nguyễn Tuấn G, mỗi người được hưởng số tiền 45.185.266 đồng.
- Trách nhiệm giao kỷ phần thừa kế và thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế:
- Ông Nguyễn Văn Q (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Q là bà Lợi Bích H1, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tân Q1, Nguyễn Tân P, Nguyễn Ngọc Q2) có trách nhiệm thanh toán số tiền thuộc kỷ phần thừa kế được chia cho những người thừa kế của ông Nguyễn Văn L2 (do ông Nguyễn Huy H đại diện); bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị Bạch L và ông Nguyễn Tuấn G, mỗi người số tiền là 45.185.266 đồng, và giao kỷ phần thừa kế là quyền sử dụng đất diện tích 450m² thuộc các thửa 317, 318, 320, tờ bản đồ số 201 tại Khu tái định cư V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương cho bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị Bạch L và ông Nguyễn Tuấn G được quản lý, sử dụng.
- Bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị Bạch L và ông Nguyễn Tuấn G có trách nhiệm liên đới thanh toán giá trị quyền sử dụng đất tương ứng với kỷ phần thừa kế được chia cho người thừa kế của ông Nguyễn Văn L2 (do ông Nguyễn Huy H đại diện) với số tiền 1.800.000.000 đồng. Ngày 04/5/2021 bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị Bạch L và ông Nguyễn Tuấn G thanh toán số tiền 1.800.000.000 đồng cho người thừa kế của ông Nguyễn Văn L2 do ông Nguyễn Huy H đại diện nhận.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Chi phí tố tụng khác:
- Án phí dân sự phúc thẩm: trả lại cho bà Lợi B1 số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0005357 ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- - VKSND tỉnh Bình Dương;
- - Chi cục THADS thành phố Thuận An;
- - TAND thành phố Thuận An;
- - Các đương sự;
- - Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự.
Ngày 15/6/2020, ông Nguyễn Văn Q đã nộp số tiền 45.185.266 đồng cho ông Nguyễn Huy H đại diện chi ông Nguyễn Văn L2 nhận.
Ngày 05/5/2021, ông Nguyễn Văn Q đã tự nguyện giao quyền sử dụng đất trên cho bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị Bạch L và ông Nguyễn Tuấn G được quản lý, sử dụng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền nêu trên thì người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi bằng mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Q là bà Lợi Bích H1, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tân Q1, Nguyễn Tân P, Nguyễn Ngọc Q2; bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị Bạch L và ông Nguyễn Tuấn G có quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Huy H, bà Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Thị Anh T2, bà Nguyễn Thị Hồng N, bà Nguyễn Thị Thủy T1 phải chịu 67.355.557 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 42.299.658 đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0017890 ngày 16/10/2017 đã được trích chuyển theo Biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0046004 ngày 11/5/2020 và Biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0034438 ngày 17/5/2020 với số tiền 25.055.899 đồng của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Ông Nguyễn Huy H, bà Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Thị Anh T2, bà Nguyễn Thị Hồng N, bà Nguyễn Thị Thủy T1 đã nộp đủ.
Bà Nguyễn Thị H3 được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà H3 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0023950 ngày 06/8/2018 và số tiền 500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0024776 ngày 09/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Ngày 07/5/2020 Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương đã hoàn trả số tiền 600.000 đồng và 500.000 đồng tạm ứng án phí trên cho bà Nguyễn Thị H3.
Bà Nguyễn Thị B được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà B 36.451.853 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0035224 ngày 15/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Ngày 07/5/2020, Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay
là thành phố ), tỉnh Bình Dương đã hoàn trả số tiền 36.451.853 đồng tạm ứng án phí còn lại trên cho bà Nguyễn Thị B.
Bà Nguyễn Thị Bạch L được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà Nguyễn Thị Bạch L số tiền 67.355.557 đồng tiền án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0034435 ngày 07/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương.
Ông Nguyễn Tuấn G phải chịu 74.303.705 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 36.451.853 đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0035237 ngày 16/5/2019 đã được trích chuyển theo Biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0046006 ngày 11/5/2020 và số tiền 30.903.704 đồng theo Biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0034437 ngày 07/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Nay ông Nguyễn Tuấn G phải nộp thêm số tiền 6.948.148 đồng.
Ông Nguyễn Văn T3 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 28.275.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0035063 ngày 18/4/2019 đã được trích chuyển theo Biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0046007 ngày 11/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Ngày 07/5/2020 Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương đã hoàn trả lại số tiền 27.975.000 đồng tạm ứng án phí còn lại trên cho ông Nguyễn Văn T3.
Ông Trình Thế L1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 28.275.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0035064 ngày 18/4/2019 đã được trích chuyển theo Biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0046008 ngày 11/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Ngày 07/5/2020, Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương đã hoàn trả lại số tiền 27.975.000 đồng tạm ứng án phí còn lại trên cho ông Trịnh Thế L4.
Ông Nguyễn Huy H tự nguyện chịu 6.643.204 đồng (sáu triệu sáu trăm bốn mươi ba nghìn hai trăm lẻ bốn đồng), chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc định giá được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp, ông H đã nộp đủ.
Ông Nguyễn Văn Q (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Lợi Bích H1, Nguyễn Tân V, Nguyễn Tân Q1, Nguyễn Tân P, Nguyễn Ngọc Q2 (do bà Lợi Bích H1 đại diện) tự nguyện chịu 3.610.000 đồng (ba triệu sáu trăm mười nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc định giá được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp. Ông Nguyễn Văn Q đã nộp đủ.
Bà Nguyễn Thị H3 tự nguyện chịu 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng) chi phí định giá được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp. Bà Nguyễn Thị H3 đã nộp đủ.
Ông Nguyễn Văn T3 và ông Trình Thế L1 tự nguyện chịu 4.705.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ định giá được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp. Ông Nguyễn Văn T3 và ông Trình Thế L1 đã nộp đủ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mộng Tuyết |
Bản án số 139/2025/DS-PT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 139/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
