|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA Số: 139/2024/HS-PT Ngày: 03/12/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Liễu;
Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Trung;
Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hiền– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Bai – Kiểm sát viên
Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 142/2024/TLPT-HS ngày 09/10/2024, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trọng Khanh đối với bản án Hình sự sơ thẩm số 197/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2024/QĐXXPT-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Trọng Khanh; sinh năm: 1987 tại Đà Nẵng; Nơi cư trú: Số 10 đường Võ Thị Sáu, phường Phước Long, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Kế toán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Thảo, sinh năm: 1954 và bà Nguyễn Thị Diệu Nguyên, sinh năm: 1958;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 25/9/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 13 (Mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chưa chấp hành hình phạt tù.
Bị cáo bị bắt truy nã, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2023 đến nay;
Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa: Bà Lục Thị Thụy – Luật sư, VPLS Thụy, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa, bào chữa theo yêu cầu của bị cáo. Có mặt.
* Bị hại: Công ty Cổ phần Đầu tư Vịnh Nha Trang; Trụ sở: Số 02 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Lộc Thọ, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Anh Trứ - Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền của bị hại: Bà Trần Thị Thanh Tâm – Trưởng phòng pháp chế và bà Liêu Thị Ngọc Lựu – Phó Trưởng phòng Pháp chế.
Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Thảo, sinh năm: 1954 và bà Nguyễn Thị Diệu Nguyên, sinh năm: 1958; Trú tại: Số 10 đường Võ Thị Sáu, phường Phước Long, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Ông Thảo vắng mặt, bà Nguyên có mặt.
- - Công ty Cổ phần HLG; Trụ sở: STH.18.19 đường 8E, Khu đô thị Lê Hồng Phong 2, phường Phước Hải, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- - Bà Nguyễn Thị Thu Thảo; Địa chỉ: Tổ 4 Hòa Tây, phường Vĩnh Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- - Ông Nguyễn Châu Ngọc, sinh năm 1997; Địa chỉ: 697/12 Lê Hồng Phong, phường Phước Hải, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.- Bà Nguyễn Thị Diễm Phương, sinh năm: 1993; Địa chỉ: 84 Huỳnh Thúc Kháng, phường Tân Lập, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.- Bà Bùi Hoàng Yến, sinh năm: 1959; Trú tại: Maple Hotel, 16 Tôn Đản, phường Lộc Thọ, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- - Bà Cao Thị Thu Thủy, sinh năm: 1983; Trú tại: 928 ô C2B Mường Thanh Viễn Triều, phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- - Ông Đinh Tấn Thưởng, sinh năm: 1975; Trú tại: 51A Nguyễn Chích, phường Vĩnh Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- - Bà Trần Thị Thu Hà, sinh năm: 1972; Trú tại: 3/39/21 Dã Tượng, phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- - Ông Trần Phan Hoàng Sinh, sinh năm: 1990; Trú tại: 1282 đường 2/4 phường Vạn Thắng, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
* Người làm chứng:
- - Bà Đặng Thị Yến Thanh, sinh năm 1989.
- - Bà Hoàng Mai Kim Yến, sinh năm: 1992.
- - Bà Nguyễn Thị Trúc Mai, sinh năm: 1986.
- - Bà Đoàn Thị Thanh Hương, sinh năm: 1985.
- - Bà Lê Thị Kim Yến, sinh năm: 1990.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trọng Khanh là nhân viên kế toán doanh thu kiêm kế toán công nợ của Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Vịnh Nha Trang, chủ đầu tư tòa nhà Panorama, địa chỉ: số 02 đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường Lộc Thọ, thành phố Nha Trang. Nguyễn Trọng Khanh làm việc theo các Hợp đồng lao động số F10008/2020/HĐLĐ ngày 06/3/2020 và số hợp đồng lao động F10008/2021/HĐLĐ ngày 06/3/2021, theo đó Khanh có nhiệm vụ kiểm tra công nợ của khách hàng, theo dõi và nhắc khách hàng nộp tiền đúng thời hạn; thu các khoản phí quản lý, phí khai thác kinh doanh căn hộ do khách hàng nộp và nộp lại cho Công ty.
Quá trình làm việc tại Công ty, từ tháng 01/2021 đến tháng 5/2021, Khanh đã thu tiền phí quản lý căn hộ, phí khai thác kinh doanh từ các khách hàng (là chủ căn hộ hoặc các đơn vị tự doanh thuộc tòa nhà Panorama) của Công ty nhưng không nộp lại cho Công ty mà chiếm đoạt để tiêu dùng cá nhân, cụ thể như sau:
- - Ngày 21/01/2021, bà Đặng Thị Yến Thanh, đại diện của Công ty HLG (là chủ các căn hộ Panorama) đến gặp Khanh nộp số tiền 13.850.397 đồng phí khai thác kinh doanh tháng 12/2020 các căn hộ (B17-05, B17-09, B17-17, B12-06, B16-03, B16-07), Khanh nhận tiền và lập phiếu thu số PT00, ký xác nhận vào phần “Kế toán nội bộ”.
- - Ngày 13/02/2021, bà Hà Thị Thu Thảo, là khách thuê căn hộ (A34-04) của bà Trần Thị Thu Hà, đến gặp Khanh nộp số tiền 641.000 đồng phí quản lý căn hộ. Khanh nhận tiền và lập phiếu thu số PT00, ký xác nhận vào phần “Kế toán nội bộ”.
- - Ngày 24/02/2021, bà Hoàng Mai Kim Yến, đại diện cho Công ty HLG đến gặp Khanh nộp số tiền 12.031.000 đồng phí khai thác kinh doanh căn hộ (B21-02, B21-03, B21-06, B22-01) tháng 01/2021 và số tiền 20.540.000 đồng phí khai thác kinh doanh căn hộ (B23-05, A22-04, A19-08) tháng 02/2021.
- - Ngày 07/02/2021, bà Bùi Hoàng Yến, là chủ căn hộ (A08-10) thuộc tòa nhà Panorama, đến gặp Khanh nộp số tiền 5.800.000 đồng phí quản lý căn hộ tháng 01/2021 vào số tài khoản cá nhân của Khanh (số 09001010867323, mở tại ngân hàng Hàng Hải Việt Nam). Khanh nhận chuyển khoản, sau đó lập 01 phiếu thu số PT00, ký xác nhận vào phần “Kế toán nội bộ”.
- - Ngày 27/3/2021, ông Đinh Tấn Thưởng, là chủ căn hộ (A11A-07) thuộc tòa nhà Panorama, đến gặp Khanh nộp số tiền 1.101.000 đồng phí quản lý căn hộ tháng 03/2021; số tiền 4.516.000 đồng phí quản lý căn hộ (A15-15, A11A-07, B10-
15, B09-02, B25-07) tháng 04/2021; số tiền 11.379.000 đồng phí quản lý căn hộ (A15-15, A11A-07, B10-15, B09-03, B25-06, B25-07) tháng 05/2021. Khanh nhận tiền và lập 03 phiếu thu số PT00, ký xác nhận vào phần “Kế toán nội bộ”.
- - Ngày 21/4/2021, bà Nguyễn Thị Trúc Mai, đại diện của Công ty HLG đến gặp Khanh nộp số tiền 15.628.327 đồng phí khai thác kinh doanh căn hộ tháng 03/2021 và số tiền 40.283.590 đồng phí khai thác kinh doanh tháng 04/2021 các căn hộ (B17-05, B17-09, B17-17, B12-06, B16-07, B16-03, B21-02, B21-03, B21-06, B22-01, B23-05, A22-04, A19-08). Khanh nhận tiền và lập 02 phiếu thu số PT00, ký xác nhận vào phần “Kế toán nội bộ”.
- - Ngày 24/4/2021, bà Nguyễn Thị Diễm Phương, là khách thuê căn hộ- (B26-12) thuộc tòa nhà Panorama đến gặp Khanh và nộp số tiền 607.000 đồng phí quản lý căn hộ (B26-12) tháng 04/2021. Khanh nhận tiền và lập 01 phiếu thu số PT00, ký xác nhận vào phần “Kế toán nội bộ”.
- - Ngày 17/5/2021, ông Trần Phan Hoàng Sinh, là chủ căn hộ (B16-11) thuộc tòa nhà Panorama, đến gặp Khanh nộp số tiền 2.295.737 đồng phí quản lý căn hộ. Khanh nhận tiền và lập phiếu thu giao cho ông Sinh
- - Ngày 21/5/2021, ông Nguyễn Châu Ngọc, là đơn vị tự doanh các căn hộ thuộc tòa nhà Panorama đến gặp Khanh nộp số tiền 25.398.535 đồng phí quản lý căn hộ. Khanh nhận tiền và lập phiếu thu giao cho ông Ngọc.
- - Ngày 28/5/2021, bà Cao Thị Thu Thủy, là chủ căn hộ (A32-11, A32-07, A32-02, A34-10) thuộc tòa nhà Panorama, đến gặp Khanh và chuyển vào tài khoản của Khanh số 0061000922645 tại Ngân hàng Vietcombank số tiền 3.218.175 đồng thanh toán phí quản lý căn hộ.
Tại Bản kết luận giám định số 100/2023/KL-KTHS ngày 22/3/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: Chữ ký mang tên Nguyễn Trọng Khanh dưới mục “Kế toán nội bộ” trên các tài liệu từ A1 đến A13 (các phiếu thu) so với chữ ký mang tên Nguyễn Trọng Khanh trên các tài liệu ký hiệu từ M1 đến M7 là do cùng một người ký ra.
Tổng cộng số tiền phí quản lý căn hộ, phí khai thác kinh doanh Nguyễn Trọng Khanh đã thu từ khách hàng sau đó chiếm đoạt của Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Vịnh Nha Trang là 157.289.761 đồng (Một trăm năm mươi bảy triệu hai trăm tám mươi chín nghìn bảy trăm sáu mươi mốt đồng).
Quá trình điều tra, truy tố, Khanh không thừa nhận đã chiếm đoạt số tiền 157.289.761 đồng mà chỉ thừa nhận chiếm đoạt của công ty khoảng trên 90.000.000 đồng.
Tại bản án sơ thẩm quyết định:
- - Căn cứ c, d khoản 2 Điều 353; điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Khanh 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội
“Tham ô tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24 tháng 6 năm 2023.
- - Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Vịnh Nha Trang số tiền 107.289.761 đồng (Một trăm linh bảy triệu hai trăm tám mươi chín nghìn bảy trăm sáu mươi mốt đồng). Bản án còn tuyên về phần án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Ngày 04/9/2024, bị cáo Nguyễn Trọng Khanh có đơn kháng cáo toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 197/2024/HS-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo và người bào chữa cho bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và cho rằng:
- + Bị cáo thừa nhận có chiếm đoạt tiền của Công ty Cổ phần Đầu tư Vịnh Nha Trang nhưng không phải số tiền 157.289.761 đồng như cấp sơ thẩm đã kết tội. Bị cáo chỉ chiếm đoạt số tiền hơn 90 triệu đồng đối với các khoản tiền của ông Đinh Tấn Thưởng là 15.895.000 đồng, Nguyễn Thị Trúc Mai là 55.911.917 đồng, Cao Thị Thu Thủy là 3.218.175 đồng, Bùi Hoàng Yến là 5.800.000 đồng và Nguyễn Thị Diễm Phương là 607.000 đồng, tổng cộng các khoản tiền này là 81.432.092 đồng. Riêng khoản tiền của ông Châu Văn Ngọc là 25.398.535 đồng bị cáo không nhớ là đã nộp cho bà Nguyễn Thị Thu Thảo chưa. Đối với các khoản tiền của bà Đặng Thị Yến Thanh là 13.850.397 đồng, Hoàng Mai Kim Yến là 32.571.000 đồng, Trần Phan Hoàng Sinh là 2.295.737 đồng và Đinh Tấn Thưởng là 1.101.000 đồng bị cáo đã nộp lại cho thủ quỹ Công ty.
- + Ngoài ra, hành vi của bị cáo không phạm tội “Tham ô tài sản” mà phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- + Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại, xem xét lại tội danh của bị cáo và đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- + Đối với số tiền 157.289.761 đồng mà cấp sơ thẩm đã kết tội bị cáo là hoàn toàn phù hợp với các chứng từ kế toán, lời khai của bà Nguyễn Thị Thu Thảo và các tài liệu chứng cứ đã được Cơ quan điều tra thu thập và được giám định chữ ký của bị cáo đúng trình tự thủ tục nên cấp sơ thẩm kết luận bị cáo chiếm đoạt số tiền 157.289.761 đồng là có căn cứ. Việc bị cáo không đồng ý với số tiền này và cho
rằng chỉ chiếm đoạt hơn 90 triệu nhưng bị cáo không chứng minh được bị cáo chiếm đoạt cụ thể số tiền là bao nhiêu.
- + Hơn nữa, bị cáo cho rằng mình không phạm tội “Tham ô tài sản” nhưng bị cáo cũng không chứng minh được tội danh của mình.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm và kiến nghị trong bản án để các cơ quan có thẩm quyền tiếp tục đấu tranh làm rõ và xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo đối với hành vi đánh bạc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trọng Khanh trong thời hạn quy định của pháp luật nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Trọng Khanh đã khai nhận hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ căn cứ để xác định: Nguyễn Trọng Khanh là nhân viên kế toán làm việc tại tòa nhà Panorama do Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Vịnh Nha Trang là chủ đầu tư. Trong khoảng thời gian làm việc từ tháng 01 đến tháng 5 năm 2021, lợi dụng quyền được thu các khoản phí quản lý, phí khai thác kinh doanh các căn hộ thuộc tòa nhà Panorama do Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Vịnh Nha Trang làm chủ đầu tư, Khanh đã nhiều lần thu tiền của các khách hàng nhưng không nộp lại cho Công ty và đã chiếm đoạt của Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Vịnh Nha Trang tổng số tiền 157.289.761 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Trọng Khanh về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c, d khoản 2 Điều 353, điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét đơn kháng cáo của bị cáo:
Bị cáo và luật sư bào chữa cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm kết tội bị cáo về tội “Tham ô tài sản” với số tiền là 157.289.761 đồng là không đúng và bị cáo chỉ chiếm đoạt số tiền hơn 90 triệu, không phạm tội “Tham ô tài sản”, nhưng bị cáo không chứng minh được các khoản tiền mà bị cáo cho rằng đã nộp lại cho thủ quỹ Công ty. Tất cả các khoản tiền mà cấp sơ thẩm xét xử bị cáo đều có chứng từ kế toán và được thu thập đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra, các chứng từ này hoàn toàn phù hợp với lời khai của bà Nguyễn Thị Thu Thảo là thủ quỹ của Công ty, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng từ này có chữ ký của bị cáo đã được Cơ quan điều tra giám định chữ ký để xem xét về tội danh cho bị cáo. Hành vi bị
cáo chiếm đoạt tiền của Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Vịnh Nha Trang đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản”, còn những dấu hiệu khác không bắt buộc đối với việc cấu thành tội tham ô tài sản. Do đó, bị cáo cho rằng bị cáo không có chức năng, nhiệm thu các khoản phí quản lý căn hộ, phí khai thác kinh doanh các căn hộ nên không cấu thành tội tham ô tài sản, là không có cơ sở và không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không thừa nhận các khoản tiền chưa nộp lại cho công ty nên Hội đồng xét xử không có cơ sở áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với bị cáo. Vì vậy, mức án 8 năm 6 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và thái độ của bị cáo tại phiên tòa. Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm không phát sinh thêm tình tiết nào mới để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường cho Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Vịnh Nha Trang số tiền 107.289.761đồng (Một trăm linh bảy triệu hai trăm tám mươi chín nghìn bảy trăm sáu mươi mốt đồng).
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Về tổng hợp hình phạt: Bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 122/2024/HS-ST ngày 25/9/2024 đã có hiệu lực pháp luật nên cần căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của các bản án.
[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Trọng Khanh.
Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 353; điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Khanh 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tham ô tài sản”.
Căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự: Tổng hợp với mức hình phạt 13 (Mười ba) năm tù theo Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 21 (Hai mươi mốt) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24 tháng 6 năm 2023.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự: Bị cáo có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường cho Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Vịnh Nha Trang số tiền 107.289.761đồng (Một trăm linh bảy triệu hai trăm tám mươi chín nghìn bảy trăm sáu mươi mốt đồng).
Quy định:
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Bích Liễu |
Bản án số 139/2024/HS-PT ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự phúc thẩm (tham ô tài sản)
- Số bản án: 139/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tham ô tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng Khanh tham ô tài sản
