|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 139/2024/HSST Ngày: 06/12/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Thanh Quang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Sơn
2. Ông Nguyễn Văn Tới
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lương Tiểu Hậu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 132/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/LÊ B1 - Sinh năm: 1968; giới tính: Nam, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: làm nông. Trình độ học vấn: 0/12. Cha: L (chết). Mẹ: Huỳnh Thị Ê, sinh năm 1938. Hiện già yếu, ở thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Gia đình có năm chị em, bị cáo là con thứ ba. Vợ: Nguyễn Thị Minh C, sinh năm 1970 (đã ly hôn). Hiện không rõ nơi cư trú. Bị cáo có ba người con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1991. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang tại ngoại ở địa phương và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
2/THÁI NGỌC T3 - Sinh năm: 1970; tên gọi khác: L, giới tính: Nam, tại tỉnh Ninh Thuận. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: khu phố A, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: không biết chữ. Nghề nghiệp: buôn bán. Cha: Thái Văn T, sinh năm 1945 (chết). Mẹ: Nguyễn Thị C1, sinh năm 1948. Hiện già yếu, ở khu phố A, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Gia đình có tám anh em, bị cáo là con thứ ba. Vợ: Trương Thị Ngọc H, sinh năm 1973 (đã ly hôn). Hiện không rõ nơi cư trú. Bị cáo có một người con, sinh năm 1997. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 21/3/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt số tiền 20.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc” tại Bản án số 56/2024/HS-ST. Bị cáo hiện đang tại ngoại ở địa phương và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
3/PHÙNG THỊ T5 - Sinh năm: 1976; Giới tính: Nữ, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi đăng ký HKTT: thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Chỗ ở: ấp L, xã A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 5/12. Nghề nghiệp: công nhân. Cha: Phùng Minh L1 (chết). Mẹ: Trần Thị Minh L2 (chết). Gia đình có bốn anh em, bị cáo là con thứ ba. Chồng: Trần Thanh T1, sinh năm 1971. Hiện làm nông, ở thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có hai người con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang tại ngoại ở địa phương và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
4/NGUYỄN THỊ T4 - Sinh năm: 1960; tên gọi khác: Bảy, giới tính: Nữ, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 3/12. Nghề nghiệp: buôn bán. Cha: Nguyễn Ngọc X (chết). Mẹ: Nguyễn Thị T2 (chết). Gia đình có năm anh em, bị cáo là con thứ tư. Chồng: Hồ Văn L3, sinh năm 1954. Hiện làm bảo vệ, ở thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có sáu người con, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1991. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang tại ngoại ở địa phương và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
5/VÕ VĂN N - Sinh năm: 1970. giới tính: nam, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 2/12. Nghề nghiệp: lao động tự do. Cha: Võ Văn M, sinh năm 1941. Mẹ: Trần Thị B, sinh năm 1948. Hiện cả hai già yếu, cùng ở thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Gia đình có năm chị em, bị cáo là con thứ tư. Vợ: Ngô Thị M1, sinh năm 1972. Hiện làm nông, ở thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có năm người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang tại ngoại ở địa phương và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Tất cả các bị cáo có mặt.
* Người làm chứng:
- 1/Nguyễn Hữu Vân, sinh năm 1985;
- 2/Nguyễn Thái C2, sinh năm 1992;
- 3/Nguyễn Văn Quý, sinh năm 1962;
Cùng địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- 4/Nguyễn Văn D, sinh năm 2003;
- 5/Bùi Ngọc Q, sinh năm 1988;
- 6/Võ Minh H1, sinh năm 1998
Cùng địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- 7/Nguyễn Thị H2, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Tất cả người làm chứng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 31/01/2023, Tổ công tác của
Phòng C3 Công an tỉnh B phối hợp với Công an huyện H và Công an xã H kiểm tra bãi đất trống tại Xóm D, thuộc thôn L, xã H, huyện H, phát hiện Lê B1, sinh năm 1968, ở thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận đang xóc cái, chung tiền thắng thua cho nhiều người đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi xóc dĩa. Thấy Tổ công tác đến, nhiều người tham gia đánh bạc bỏ chạy. Tổ công tác thu giữ trên chiếu bạc 01 bộ dụng cụ xóc dĩa gồm: 01 chén, 01 dĩa, 04 đồng nhị, 01 tấm chiếu và số tiền 6.940.000 đồng.
Do địa điểm bắt quả tang không đủ điều kiện lập biên bản nên Tổ công tác mời 12 người liên quan có mặt tại sòng bạc về trụ sở Công an huyện H làm việc, gồm: Lê B1; Thái Ngọc T3 (L), sinh năm 1970, ở khu phố A, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nguyễn Thị T4 (B1), sinh năm 1960, ở thôn C, xã H; Võ Văn N, sinh năm 1970 và Phùng Thị T5, sinh năm 1976, cùng ở thôn L, xã H, cùng huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nguyễn Văn D, sinh năm 2003; Võ Minh H1, sinh năm 1998; Bùi Ngọc Q, sinh năm 1988, cùng ở thôn C, xã H; N (Ú), sinh năm 1992, ở thôn L; Nguyễn Thị H2, sinh năm 1983, ở thôn L; Nguyễn Hữu V (Bé Đ), sinh năm 1985; Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1962, cùng ở thôn L, cùng xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Tổ công tác tạm giữ của B1: 01 điện thoại N1 và số tiền cá nhân 2.000.000 đồng; tạm giữ của T4: số tiền 800.000 đồng; tạm giữ của T5: 01 điện thoại Oppo; tạm giữ của T3: 01 điện thoại N1 và số tiền 21.000.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 15 giờ ngày 31/01/2023, có một số con bạc (không xác định được ai) tụ tập ở khu vực Xóm D, thuộc thôn L, xã H để đánh bạc dưới hình thức xóc dĩa được thua bằng tiền. B1 đi đến sòng bạc để xem các con bạc đánh xóc dĩa. Khi B1 đến thì thấy có khoảng 07 đến 08 người ở sòng xóc dĩa. Lúc này, có một người thanh niên (không rõ nhân thân) đang xóc cái cho các con bạc đặt cược. Người thanh niên này say, nói nhiều nên có con bạc (không xác định được ai) nói B1 vào xóc cái cho họ đánh, người đánh bạc thắng sẽ cho B1 tiền. B1 đồng ý vào xóc cái thay cho người thanh niên trên. Bảy xóc cái xong thì đặt chén xuống, con bạc đặt tiền bao nhiêu, thắng thua như thế nào do các con bạc tự tính và B1 không thu tiền xâu. Quá trình xóc cái, B1 cũng là người lấy tiền bên thua đưa cho bên thắng. Ván nào con bạc nhận mở chén thua thì tự bỏ tiền ra chung cho con bạc thắng. Bảy xóc cái mỗi ván thì có khoảng 03 đến 04 con bạc đặt cược, số người còn lại đứng xem. Con bạc đặt cao nhất mỗi ván là khoảng 200.000 đồng, thấp nhất là khoảng 30.000 đồng. Bảy xóc được khoảng 07 đến 08 ván, mỗi ván khoảng 10 phút. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi B1 đang xóc cái thì bị Tổ công tác Phòng C3 Công an tỉnh B phối hợp Công an huyện H và Công an xã H kiểm tra, bắt giữ. Số người đánh bạc và số tiền sử dụng đánh bạc của từng người trong ngày 31/01/2023 như sau:
- - T3 mang theo số tiền 22.000.000 đồng, sử dụng 2.000.000 đồng đánh bạc, đánh thua 1.000.000 đồng, thu giữ số tiền 21.000.000 đồng, trong đó có 1.000.000 đồng là tiền đánh bạc.
- - T5 mang theo số tiền 700.000 đồng, sử dụng 700.000 đồng đánh bạc, đánh thua hết.
- - T4 mang theo số tiền 1.100.000 đồng, sử dụng 300.000 đồng đánh bạc, đánh thua hết, thu giữ số tiền 800.000 đồng là tiền sử dụng vào mục đích cá nhân.
hết.
- - N mang theo số tiền 200.000 đồng, sử dụng 200.000 đồng đánh bạc, đánh thua
Số tiền đánh bạc T3, T5, T4 và N phải chịu trách nhiệm hình sự là 7.940.000 đồng, gồm: số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 6.940.000 đồng và số tiền đánh bạc thu giữ của T3 là 1.000.000 đồng.
Hình thức đánh bạc “xóc dĩa” được quy định như sau: bộ dụng cụ dùng xóc dĩa là 01 chén, 01 dĩa và 04 đồng nhị (vị) hình tròn được cắt ra từ các lá bài Tây 52 lá, người xóc cái bỏ 04 đồng nhị vào trong dĩa, úp chén lên để xóc, sau đó đặt xuống, các con bạc tùy ý đặt cược vào hai bên chẵn hoặc lẻ trên chiếu bạc, mức đặt cược không giới hạn tùy thuộc vào người đánh. Khi không còn ai đặt cược, thì người đánh bạc bất kỳ là ai đều được mở chén, người xóc cái không mở chén và khi mở chén, nếu có 02 hoặc 04 đồng nhị ngửa hoặc sấp giống nhau là chẵn, nếu có 01 hoặc 03 đồng nhị ngửa, sấp giống nhau là lẻ, tỷ lệ thắng - thua là 1:1, tức là người đánh đặt bao nhiêu tiền, nếu thắng thì người mở chén là người làm cái của ván đó trả bấy nhiêu, số tiền thắng, thua mỗi ván thì lấy tiền từ người thua để trả cho người thắng.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
- - Thu giữ trên chiếu bạc 01 bộ dụng cụ xóc dĩa gồm: 01 chén, 01 dĩa, 04 đồng nhị, 01 tấm chiếu và số tiền 6.940.000 đồng.
- - Thu giữ của B1: 01 điện thoại Nokia và số tiền cá nhân 2.000.000 đồng; của T4: số tiền 800.000 đồng; của T5: 01 điện thoại Oppo; của T3: 01 điện thoại N1 và số tiền 21.000.000 đồng.
Tất cả vật chứng trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H xử lý xong theo Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 78/QĐ-CQCSĐT ngày 28/8/2023, cụ thể:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ xóc dĩa gồm: 01 chén, 01 dĩa, 04 đồng nhị, 01 tấm chiếu là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 6.940.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và số tiền 1.000.000 đồng sử dụng đánh bạc thu giữ của T3.
- - Trả lại cho B1 01 điện thoại Nokia và số tiền 2.000.000 đồng; trả lại cho T4 số tiền 800.000 đồng; trả lại cho T5 01 điện thoại Oppo; trả lại cho T3 01 điện thoại Nokia và số tiền 20.000.000 đồng do không liên quan đến việc phạm tội.
Tại bản Cáo trạng số 131 /CT-VKSHTB ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố: Các bị cáo Lê B1, Thái Ngọc T3, Phùng Thị T5, Nguyễn Thị T4 và Võ Văn N về tội: “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lê B1, Thái Ngọc T3, Phùng Thị T5, Nguyễn Thị T4 và Võ Văn N cùng phạm tội “Đánh bạc”.
- 1/Đối với bị cáo Lê B1: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê B1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án.
- 2/Đối với bị cáo Thái Ngọc T3: áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt từ 06 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- 3/Đối với các bị cáo Phùng Thị T5, Nguyễn Thị T4 và Võ Văn N: áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt mỗi bị cáo số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
c) Xử lý vật chứng: không.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an huyện H; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]Tại phiên tòa các bị cáo Lê B1, Thái Ngọc T3, Phùng Thị T5, Nguyễn Thị T4 và Võ Văn N khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố, xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện H, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 31/01/2023, Tổ công tác Phòng C3 Công an tỉnh B phối hợp với Công an huyện H và Công an xã H kiểm tra bãi đất trống tại Xóm D, thuộc thôn L, xã H, huyện H phát hiện L đang xóc cái, chung tiền thắng thua cho Thái Ngọc T3, Phùng Thị T5, Nguyễn Thị T4 và Võ Văn N đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi xóc dĩa. Tổ công tác tạm giữ trên chiếu bạc 01 bộ dụng cụ xóc dĩa gồm: 01 chén, 01 dĩa, 04 đồng nhị, 01 tấm chiếu và số tiền 6.940.000 đồng. Các bị cáo Thái Ngọc T3, Phùng Thị T5, Nguyễn Thị T4 và Võ Văn N đánh bạc dưới hình thức xóc dĩa được thua bằng tiền, số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng là đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lê B1 giúp sức cho các bị cáo trên đánh bạc với vai trò xóc cái nên đồng phạm với các bị cáo trên. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lê B1, Phùng Thị T5, Nguyễn Thị T4 và Võ Văn N lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Lê B1, Thái Ngọc T3, Phùng Thị T5, Nguyễn Thị T4 và Võ Văn N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, Lê B1 và Thái Ngọc T3 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, Lê B1 có anh là Lê Văn H3 tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế. Phùng Thị T5 có mẹ là Trần Thị Minh L2 và ông ngoại là Trần Văn M2 được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, Lê B1, Phùng Thị T5, Nguyễn Thị T4 và Võ Văn N có nhân thân tốt - là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[5] Về hình phạt: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều đang ở tuổi thanh niên có sức khỏe nhưng không lao động để có thu nhập chính đáng mà ngược lại muốn có nhiều tiền bằng cách tổ chức đánh bạc sát phạt nhau là tệ nạn xã hội dẫn đến các hậu quả xấu và các tiêu cực khác trong xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự địa phương, gây bất bình, bức xúc trong đời sống nhân dân. Do đó, cần thiết phải lên cho các bị cáo mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Đối với Lê B1 là người xóc cái cho các con bạc khác đặt cược, các con bạc tự chung tiền cho nhau chứ B1 không thu tiền xâu, không tổ chức đánh bạc. Xét bị cáo Lê B1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, có nơi ở ổn định, đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục là đủ để răn đe, giáo dục bị cáo.
Đối với bị cáo Thái Ngọc T3 bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử về hành vi đánh bạc xảy ra ngày 26/4/2022 trước khi tham gia đánh bạc ngày 31/01/2023 này, tuy nhiên bị cáo tham gia đánh bạc số tiền không lớn, có nơi thường trú rõ ràng, hiện hoàn cảnh khó khăn phải nuôi mẹ già nên tạo điều kiện cho bị cáo lao động nuôi mẹ già. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà chỉ cần phạt bị cáo cải tạo không giam giữ và giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục là đủ răn đe và phòng ngừa chung. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự cần phạt bị cáo Thái Ngọc T3 một khoản tiền 10.000.000đ để sung quỹ Nhà nước.
Đối với các bị cáo Phùng Thị T5, Nguyễn Thị T4 và Võ Văn N tham gia đánh bạc nên phải xử lý nghiêm. Xét các bị cáo sử dụng số tiền không lớn nên áp dụng Điều
35 Bộ luật hình sự xử phạt tiền bị cáo là đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[6]Các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Hữu V, Nguyễn Văn D, Võ Minh H1, Nguyễn Thái C2, Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Thị H2 và Bùi Ngọc Q không đánh bạc, không giúp sức cho Lê B1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không xử lý.
[7] Về xử lý vật chứng: Tất cả vật chứng của vụ án đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H xử lý xong theo Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 78/QĐ-CQCSĐT ngày 28/8/2023, cụ thể: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ xóc dĩa gồm: 01 chén, 01 dĩa, 04 đồng nhị, 01 tấm chiếu là công cụ sử dụng vào việc phạm tội. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 6.940.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và số tiền 1.000.000 đồng sử dụng đánh bạc thu giữ của T3.Trả lại cho B1 01 điện thoại Nokia và số tiền 2.000.000 đồng; trả lại cho T4 số tiền 800.000 đồng; trả lại cho T5 01 điện thoại Oppo; trả lại cho T3 01 điện thoại Nokia và số tiền 20.000.000 đồng do không liên quan đến việc phạm tội. Là đúng quy định pháp luật nên Tòa không xem xét giải quyết nữa.
Các bị cáo Lê B1, Thái Ngọc T3, Phùng Thị T5, Nguyễn Thị T4 và Võ Văn N mỗi người phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Lê B1 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt Lê B1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm được tính từ ngày Tòa tuyên án (06/12/2024).
Giao bị cáo Lê B1 cho chính quyền địa phương Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp Lê Bảy thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ: Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố: Bị cáo Thái Ngọc T3 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt Thái Ngọc T3 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án Hình sự Công an thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận nhận được quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ và bản sao bản án. Phạt bổ sung bị cáo Thái Ngọc T3 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 35 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Phùng Thị Trọng phạm T6
“Đánh bạc”. Xử phạt Phùng Thị Trọng 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 35 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T4 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt Nguyễn Thị T4 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 35 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn N phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt Võ Văn N 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
- Về án phí: Áp dụng: Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Lê B1, Thái Ngọc T3, Phùng Thị T5, Nguyễn Thị T4 và Võ Văn N mỗi người phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ung Thanh Quang |
Bản án số 139/2024/HSST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 139/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
