|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH H |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 139/2024/HS-ST Ngày: 26 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YỸ |
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị T.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Xuân Ch và ông Nguyễn Văn Đ
- - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Th - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Y.
- - Đại diện VKSND huyện Yên Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền T - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26/11/2024, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh H mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 116/2024/TLST -HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Đặng Thị T1, sinh năm 1974; STQ: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 2/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn L (Đã chết) và bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1947; Gia đình có 6 chị em, bị cáo là thứ ba; Chồng: Hoàng Văn T2, sinh năm 1969; có 02 con, con lớn sinh năm1995, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 03/7/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1968 ( có mặt) và chồng là ông Nguyễn Đình T3, sinh năm 1965 ( vắng mặt).
Đều trú tại: Thôn Đ, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. - Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1965 và chồng là ông Hoàng Văn N, sinh năm 1962 ( có mặt).
Đều trú tại: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. - Bà Trần Lệ Q, sinh năm 1981 (có mặt) và chồng là ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1983( vắng mặt).
HKTT: Thôn Thượng Bùi, xã Trung Hòa, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên
Nơi ở: Thôn Hoan Ái, xã Tân Việt, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. - Bà Hoàng Thị C, sinh năm 1982 (có mặt) và chồng là ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1978 ( vắng mặt).
Đều trú tại: Thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1973 ( có mặt) và chồng là ông Đào Văn M1, sinh năm 1966 ( vắng mặt).
Đều trú tại: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. - Bà Phạm Thị N1, sinh năm 1969 (có mặt) và chồng là ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1962 ( vắng mặt).
Đều trú tại: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hoàng Văn T4, sinh năm 1995 và vợ là chị Nguyễn Thị T10, sinh năm 1995 ( có mặt).
Đều trú tại: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. - Bà Hoàng Thị L1, sinh năm 1961 ( có mặt) và chồng là ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1958 ( vắng mặt).
Đều trú tại: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. - Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1973 và chồng là ông Hoàng Anh T5, sinh năm 1971 ( vắng mặt).
Đều trú tại: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. - Bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1972 và chồng là ông Phạm Quý D, sinh năm 1970 ( văng mặt).
Đều trú tại: Thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. - Chị Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1993 và chồng là anh Hoàng Trường T7, sinh năm 1992 ( vắng mặt).
Đều trú tại: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. - Ông Hoàng Ngọc T8, sinh năm 1988 và vợ là bà Đỗ Thị B, sinh năm 1989 ( vắng mặt).
Đều trú tại: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. - Bà Lưu Thị T9, sinh năm 1987 ( có mặt)
Trú tại: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. - Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1987 và chồng là ông Đào Văn X1, sinh năm 1987 ( vắng mặt).
Đều trú tại: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
* Người làm chứng:
- Ông Hoàng Văn T2, sinh năm 1969 ( có mặt).
- Chị Hoàng Thị N2, sinh năm 2005 ( có mặt).
Đều trú tại: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. - Chị Nguyễn Thị Thùy T10, sinh năm 1990
- Anh Đặng Phúc K, sinh năm 1990
Đều trú tại: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. - Bà Nguyễn Thị N3, sinh năm 1980
Trú tại: Thôn G, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Thị T1, sinh năm 1974 trú tại thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên đứng lên cầm cái một số bát họ. T1 và người chơi họ quy định cứ 03 tháng sẽ đóng họ một lần với số tiền 20.000.000đồng cho T1. Người đã lấy họ trước thì phải đóng số tiền là 24.000.000đồng cho những người lấy họ sau, nếu ai đóng họ chậm sẽ phải chịu lãi suất 2.000đồng/triệu/ngày nộp cho T1, còn T1 có trách nhiệm ứng tiền của mình ra chi trả cho những người được lấy họ. Sau khi nhận tiền họ của mọi người thì T1 có trách nhiệm trả tiền cho người chơi họ theo thứ tự. Trong trường hợp bát họ bị vỡ (tức có người chơi họ không có khả năng chi trả họ) thì T1 có trách nhiệm thu tiền họ của những người đã được lấy họ để trả lại cho những người chơi họ chưa được lấy vào thời điểm bát họ bị vỡ. Khi hoạt động bát họ, T1 nhờ chị Hoàng Thị N2, sinh năm 2005 là con gái của T1 viết hộ 01 tờ giấy “Biên bản chơi họ tiền”. Những người đã lấy tiền họ thì thắm ghi vào Biên bản chơi họ tiền là “Đã lấy rồi”. Khi bát họ bị vỡ, T1 đã thu được tiền của những người đã lấy họ trước nhưng T1 nói dối là chưa lấy được tiền để không trả hết số tiền này cho những người chưa được lấy họ, mà chiếm đoạt số tiền đó để chi tiêu việc cá nhân. Cụ thể:
1. Bát họ thứ nhất.
Ngày 10/03/2019, Đặng Thị T1 thành lập bát họ do T1 cầm cái và rủ những người sau cùng tham gia chơi họ:
Chị Nguyễn Thị T6 sinh năm 1972 ở thôn C, xã T, huyện Y; anh Hoàng Ngọc T8 sinh năm 1988; bà Hoàng Thị L1 sinh năm 1961; Nguyễn Thị Cẩm V sinh năm 1993, Hoàng Văn T4 sinh năm 1995, bà Nguyễn Thị M sinh năm 1965, Nguyễn Thị X sinh năm 1973, bà Phạm Thị N1 sinh năm 1969, chị Lưu Thị T9 sinh năm 1987 đều trú tại thôn H, xã T, huyện Y và Hoàng Thị C sinh năm 1982 trú tại thôn N, xã T, huyện Y (chị C và chị X chơi chung 01 chân họ) và T1 cũng tham gia chơi một chân họ. Những người chơi họ được T1 đưa biên bản chơi họ tiền đề ngày 10/3/2019 ký vào cuối biên bản. Quá trình chơi bà L1 tham gia chơi được 02 lượt thì do không có tiền nên báo T1 không chơi nữa, T1 đồng ý và rủ nhà chị Nguyễn Thị H2 sinh năm 1987 ở cùng thôn tham gia chơi thay chân họ của bà L1 rồi thông báo những người chơi cùng bát họ biết.
Bát họ có 10 người chơi và thống nhất thứ tự lấy bát họ: Chị Nguyễn Thị T6 là người lấy đầu tiên; Đặng Thị T1 lấy chân họ thứ hai; anh Hoàng Ngọc T8 lấy chân họ thứ ba; chị Nguyễn Thị H2 (chơi thay chân họ nhà bà L1) lấy chân họ thứ tư; chị Nguyễn Thị Cẩm V lấy chân họ thứ năm; anh Hoàng Văn T4 lấy chân họ thứ sáu; bà Nguyễn Thị M lấy chân họ thứ bảy; chị Hoàng Thị C – chị Nguyễn Thị X lấy chân họ thứ tám; chị Lưu Thị T9 lấy chân họ thứ chín; bà Phạm Thị N1 lấy chân họ thứ mười. T1 nhờ chị Hoàng Thị N2, sinh năm 2005 là con gái của T1 viết hộ 01 tờ giấy “Biên bản chơi họ tiền” và mang biên bản đến cho những người chơi họ ký vào biên bản.
Tháng 03/2019, T1 thu tiền chơi họ của nhà anh T8, bà L1, chị V, anh T4, bà M, chị C – X, chị T9 và bà N1 mỗi người số tiền 20.000.000 đồng; T1 đóng 20.000.000 đồng, tổng số tiền 180.000.000 đồng đưa cho chị Nguyễn Thị Tuyết . Đến tháng 6/2019 T1 được nhận tiền của mọi người chơi được tổng số tiền 184.000.000 đồng; Đến tháng 09/2019 T1 thu tiền họ của mọi người được tổng số tiến 164.000.000 đồng và T1 tự bỏ ra số tiền 24.000.000 đồng, tổng
188.000.000 đồng đưa cho anh Hoàng Ngọc T8; Đến tháng 12/2019 T1 thu tiền họ của mọi người được 168.000.000 đồng và T1 tự bỏ ra số tiền 24.000.000 đồng, tổng được 192.000.000 đồng rồi T1 lấy số tiền 40.000.000 đồng trả cho nhà bà L1 và đưa nhà chị Nguyễn Thị H2 số tiền 152.000.000 đồng; Đến tháng 03/2020 T1 thu tiền họ của mọi người được số tiền 152.000.000 đồng và T1 tự bỏ ra 24.000.000 đồng được tổng 176.000.000 đồng đưa nhà chị Đặng Thị Cẩm V1, riêng nhà bà N1 thì tự mang số tiền 20.000.000 đồng đến đóng cho chị V1; Đến tháng 06/2020 (lúc này bát họ ngày 15/8/2019 đã bị vỡ), T1 thu tiền họ của mọi người được số tiền 152.000.000 đồng, T1 không có tiền để đóng chân họ của mình và chân họ chị T6 (chị T6 chuyển tiền từ bát họ ngày 15/8/2019 sang) nên T1 đưa cho anh Hoàng Văn T4 (là con trai của T1) số tiền 152.000.000 đồng, đồng thời nói với anh T4 về việc không có tiền để đóng thì anh T4 đồng ý.
Đến tháng 9/2020, chị T9 đóng cho T1 số tiền 20.000.000 đồng, thời gian này do T1 không còn khả năng chi trả cho bát họ trên, T1 đã đưa ra thông tin không đúng sự thật cho những người chơi họ là có người không đóng tiền họ để tuyên bố bát họ này vỡ. Đồng thời T1 đến gặp chị T6, anh T8, chị H2, chị V1, anh T4 đòi số tiền họ đã được nhận trừ đi số tiền đã đóng, những người này không đủ tiền để đóng lại ngay số tiền họ đã nhận và đều xin khất nợ khi nào có tiền sẽ đưa cho T1, T1 nói lại với những chân họ chưa được nhận tiền nội dung như trên và cam kết sẽ trả lại tiền ngay sau khi nhận được tiền của những người đã nhận họ trước. Bà Đình Thị N4 thấy T1 thông báo vỡ họ đã đến từng nhà đòi lại tiền thì có nhà chị V1 trả bà N4 số tiền 20.000.000 đồng, còn những chân họ khác không đưa vì họ không nhận tiền trực tiếp của bà N4. Đến tháng 06/2021, chị T6, anh T8, chị H2, chị V1, anh T4 đều đã trả tiền bốc bát họ cho T1 tổng số tiền 388.000.000 đồng để T1 trả lại những chân họ đã đóng tiền nhưng chưa được nhận tiền họ. Khi nhận được tiền này T1 có trả cho chân họ bà M số tiền 120.000.000 đồng và chân họ chị T9 số tiền 140.000.000 đồng. Số tiền 128.000.000 đồng còn lại theo cam kết thì T1 phải đem trả lại cho chị C, chị X và bà N4 nhưng khi những người này đến đòi tiền thì T1 nại ra lý do chưa nhận được tiền của những người đã bốc bát họ để T1 không trả lại mà chiếm đoạt hết số tiền này để chi tiêu cá nhân hết.
2. Bát họ thứ hai.
Để cho vợ chồng con trai là anh Hoàng Văn T4 có vốn làm ăn. T1 tiếp tục rủ những người sau chơi họ.
Bà Hoàng Thị L1; chị Nguyễn Thị Cẩm V; bà Nguyễn Thị M; chị Nguyễn Thị T6; anh Hoàng Văn T4 (đều đã chơi ở bát họ ngày 10/3/2019); chị Nguyễn Thị H1 sinh năm 1973 ở cùng thôn; chị Trần Lệ Q sinh năm 1981 trú tại thôn T, xã T, huyện Y; bà Trần Thị Đ sinh năm 1968 trú tại thôn Đ, xã L, huyện Y; chị Nguyễn Thị Thùy T10 sinh năm 1991 và T1 tham gia chơi một chân họ. Đặng Thị T1 thông báo quy định chơi hụi họ: Bát họ có 10 chân họ với thứ tự: Anh Hoàng Văn T4 - con trai T1 lấy chân họ đầu tiên; chị Nguyễn Thị Thùy T10 (T) lấy chân họ thứ hai; bà Nguyễn Thị L2 lấy chân họ thứ ba; chị Trần Lệ Q lấy chân họ thứ tư; chị Nguyễn Thị H1 lấy chân họ thứ năm; bà Nguyễn Thị M lấy chân họ thứ sáu; T1 lấy chân họ thứ bảy; chị Nguyễn Thị T6 lấy chân họ thứ tám; chị Nguyễn Thị Cẩm V lấy chân họ thứ chín; bà Trần Thị Đ lấy chân họ
thứ mười. Thắm nhờ chị Hoàng Thị N2 là con gái của T1 viết hộ 01 tờ giấy “Biên bản chơi họ tiền”, trên tờ giấy ghi thành phần gồm 10 người chơi như trên, rồi T1 mang tờ giấy này đến từng nhà người chơi cho họ ký bên dưới, trong đó T1 ký hộ nhà bà M do lúc đó bà M đang làm vườn và nhờ chị N2 viết chữ T. Sau đó T1 mang tờ giấy “Biên bản chơi họ tiền”có chữ ký của mọi người photo thành 09 bản, rồi mang đến đưa cho những người chơi họ mỗi người 01bản. Trong những người chơi đăng ký chơi từ đầu chị Nguyễn Thị Thùy T10 nhưng sau đó chị T10 không tham gia chơi nữa, nên chị V chơi thêm một chân họ của chị T10 (V là em gái chị T10) và chị V đã báo với T1 để thống nhất V tham gia chơi hai chân họ.
Tháng 08/2019, T1 thu tiền chơi họ của bà L2, chị Q, bà M, chị T6, chị H1, bà Đ mỗi người số tiền 20.000.000 đồng; thu của chị V số tiền 40.000.000 đồng; T1 đóng 20.000.000 đồng. Tổng số tiền 180.000.000 đồng đưa cho anh Hoàng A T4 có vợ là Nguyễn Thị T10, sinh năm 1995. Đến tháng 11/2019 T1 thu tiền của mọi người chơi được tổng số tiền 164.000.000 đồng đưa chị Nguyễn Thị Cẩm V (kỳ này chị V trừ một chân họ của chị); Đến tháng 02/2020 T1 thu tiền họ của mọi người được tổng số tiến 188.000.000 đồng đưa cho nhà bà Nguyễn Thị Len .1
Đến tháng 05/2020, T1 không có khả năng đóng họ tiếp nên đưa ra thông tin gian dối cho những người chơi là bát họ này vỡ, do có chân họ không đóng tiền họ. Đồng thời T1 đến gặp anh T4, chị V và bà L2 đòi phần tiền họ đã được nhận (sau khi trừ số tiền đã đóng) thì ngay trong tháng 5/2020, anh T4 đã trả T1 số tiền 140.000.000đồng, chị V đã trả T1 số tiền 80.000.000đông (chị V trừ phần tiền chân họ chị chơi là 60.000.000 đồng), bà L2 đã trả T1 số tiền 140.000.000đồng là phần tiền họ những người này đã nhận (sau khi đối trừ phần đã đóng). Tổng số tiền họ T1 đã thu lại được là 360.000.000đồng. Trong số tiền 360.000.000 đồng có 60.000.000đồng là tiền mà T1 đã đóng, còn 300.000.000đồng là tiền họ mà chị Q, chị H1, bà M, bà Đ, chị T6, mỗi người đã đóng 60.000.000đồng. Đến tháng 08/2020 T1 trả chị H1 số tiền 60.000.000 đồng; do chị T6 tham gia chơi bát họ ngày 10/3/2019 đã được lấy tiền họ đầu tiên nên chị T6 và T1 thống nhất đối trừ 60.000.000 đồng được nhận vào tiền mà chị T6 phải đóng tiền họ hàng kỳ của bát họ ngày 10/3/2019. Số tiền 180.000.000 đồng còn lại theo thỏa thuận thì T1 phải trả cho chị Q, bà M và bà Đ nhưng khi những người này đến đòi tiền thì T1 nại ra lý do chưa nhận được tiền của những người đã bốc bát họ để T1 không trả lại mà chiếm đoạt số tiền này chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 14/9/2023, bà Trần Thị Đ có đơn trình báo Công an huyện Y đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngày 23/11/2023, Đặng Thị T1 giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Y 01 “Biên bản chơi họ tiền ngày 15/8/2019”, ký hiệu A.
Ngày 16/5/2024, Đặng Thị T1 giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Y 01 “Biên bản chơi họ tiền ngày 10/3/2019”.
Ngày 08/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y tiến hành khám xét chỗ ở của Đặng Thị T1. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật tài liệu gì.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Y thu thập chữ ký, chữ viết của những người chơi họ ngày 15/8/2019 để trưng cầu giám định cùng “Biên bản chơi họ tiền ngày 15/8/2019”.
* Bản kết luận số 60/KL-KTHS ngày 20/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận:
- Chữ viết có nội dung “Đã lấy rồi T1, Đ2 lấy rồi T1, Đã lấy rồi 3, Đã lấy rồi, Đã lấy rồi 5, H3, Còn” tại trang 1; “Thắm Hồng, T, M” tại trang 2 trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết của Đặng Thị T1 do cùng một người viết ra
- Chữ viết có nội dung “Thọ Vân” tại trang 2 trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết của Nguyễn Thị Cẩm V do cùng một người viết ra;
- Chữ viết có nội dung “Tùng T11” tại trang 2 trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết của Nguyễn Thị T10 do cùng một người viết ra;
- Chữ viết có nội dung “Len Hải” tại trang 2 trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết của Hoàng Thị L1 do cùng một người viết ra;
- Chữ viết có nội dung “Quyên Sửu” tại trang 2 trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết của Trần Lệ Q do cùng một người viết ra;
- Chữ viết có nội dung “Tuyết Dương” tại trang 2 trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết của Nguyễn Thị T6 không phải do cùng một người viết ra;
- Chữ viết có nội dung “Tú Hiệp” tại trang 2 trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết của Nguyễn Thị H1 do cùng một người viết ra.
- Chữ viết có nội dung “Đua Toàn” tại trang 2 trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết của Trần Thị Đ do cùng một người viết ra;
- Chữ viết còn lại trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết của Hoàng Thị N2 do cùng một người viết ra.
* Trách nhiệm dân sự:
Chị Trần Lệ Q, bà Nguyễn Thị M, bà Trần Thị Đ, chị Hoàng Thị C, chị Nguyễn Thị X đều yêu cầu Đặng Thị T1 hoàn trả mỗi người số tiền 60.000.000 đồng, bà Phạm Thị N1 yêu cầu T1 hoàn trả số tiền 100.000.000 đồng. Tất cả đều không yêu cầu trả lãi.
Quá trình điều tra, bị cáo Đặng Thị T1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 123/CT-VKS-YM ngày 11/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo Đặng Thị Thắm về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đặng Thị T1 và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 46; khoản 2, Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 357, 468, 584, 585, 586 Bộ luật dân sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật
Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Đề nghị xử phạt: Bị cáo Đặng Thị T1 từ 6 năm tù đến 6 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 03/7/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T1. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ còn đề nghị về đường lối xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự và án phí trong vụ án.
- Bị cáo T1 nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, đồng thời thành khẩn khai báo nhận tội, thái độ ăn năn hối cải, được nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo ở mức án thấp nhất. Bị cáo xin trả dần đối với số tiền chiếm đoạt của các bị hại.
- Các bị hại là bà Đ, bà Q, bà X, bà N1 không đồng ý cho bị cáo T1 trả dần đối với số tiền chiếm đoạt và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.
- Các bị hại là bà C, bà M đồng ý cho bị cáo T1 trả dần đối với số tiền chiếm đoạt và đề nghị Hội đồng xét xử xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị T9, chị T10 và anh T4 đều xác định đã trả lại đủ số tiền được nhận tại các bát họ cho bị cáo T1 và không có ý kiến đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.
Về tố tụng: Tại phiên tòa người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên quá trình điều tra họ đã có lời khai, do đó sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt những người trên.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với biên bản niêm phong vật chứng, biên bản ghi lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định của phòng K1 Công an tỉnh H cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Trong khoảng từ tháng 03/2019 đến tháng 09/2020, tại thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, quá trình làm cái hai bát họ sau một thời gian đã thu được tiền của các người chơi họ đóng theo thỏa thuận, bị cáo T1 đã đưa ra thông tin không đúng sự thật để tuyên bố vỡ họ. Đến tháng
05/2020 bị cáo T1 nhận được 360.000.000 đồng của những người chơi họ đã nhận tiền của bát họ lập ngày 15/8/2019, bị cáo T1 có trả lại cho một số người chơi đóng họ chưa được nhận tiền họ là 180.000.000 đồng (trong đó có bị cáo T1) còn lại 180.000.000 đồng bị cáo T1 nói dối chưa nhận được tiền của những người chơi họ đã nhận tiền để cố tình không trả lại cho chị Trần Lệ Q, bà Nguyễn Thị M và bà Trần Thị Đ như đã cam kết mà chiếm đoạt chi tiêu cá nhân hết. Đối với bát họ lập ngày 10/3/2019 đến tháng 6/2021 bị cáo T1 đã nhận được 388.000.000 đồng của những người chơi họ đã nhận tiền, bị cáo T1 có trả lại cho 02 người đóng họ chưa được nhận tiền họ là 260.000.000 đồng, còn lại 128.000.000 đồng bị cáo T1 nói dối chưa nhận được tiền của những người chơi họ đã nhận tiền để cố tình không trả lại cho bà Đinh Thị N5, chị Hoàng Thị C và chị Nguyễn Thị X như bị cáo T1 đã cam kết mà chiếm đoạt chi tiêu vào việc cá nhân hết. Tổng số tiền bị cáo T1 chiếm đoạt từ việc làm cái 02 bát họ là 308.000.000 đồng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác trái pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương nên cần phải xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại phiên tòa con gái bị cáo là chị Hoàng Thị N2 có nộp cho HĐXX các Huân chương của bố mẹ chồng bị cáo thì thấy: Theo hướng dẫn tại mục 5 phần Hình sự của Công văn số: 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 thì phải là vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng thưởng thì mới xác định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Nhưng, tại phiên tòa các bị hại là bà M và bà C xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng khoản 5 Điều 175 của Bộ luật hình sự, để phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Tổng số tiền bị cáo T1 chiếm đoạt từ việc làm cái 02 bát họ là 308.000.000đồng. Tại bát họ lập ngày 10/3/2019, bị cáo T1 đã được lấy họ vào tháng 6/2019 nên khi vỡ họ vào tháng 9/2020 bị cáo phải trả lại 92.000.000đồng là số tiền đã được lấy họ sau khi trừ đi số tiền đã đóng họ để trả lại cho những người chơi họ nhưng hiện nay bị cáo chưa bỏ ra 92.000.000đồng để trả cho các người chơi họ chưa được nhận tiền nên cần buộc bị cáo T1 phải trả lại cho các người chơi họ chưa được nhận tiền tổng số là 400.000.000 đồng ( Bốn trăm triệu đồng) cụ thể như sau:
- Cần buộc bị cáo T1 trả lại cho vợ chồng bà Trần Thị Đ, sinh năm 1968 và ông Nguyễn Đình T3, sinh năm 1965, trú tại: Thôn Đ, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên số tiền 60.000.000đồng tại bát họ lập ngày 15/8/2019.
- Cần buộc bị cáo T1 trả lại cho vợ chồng bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1965 và ông Hoàng Văn N, sinh năm 1962, trú tại: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên số tiền 60.000.000đồng tại bát họ lập ngày 15/8/2019.
- Cần buộc bị cáo T1 trả lại cho vợ chồng bà Trần Lệ Q, sinh năm 1981 và ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1983, trú tại: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên số tiền 60.000.000đồng tại bát họ lập ngày 15/8/2019.
- Cần buộc bị cáo T1 trả lại cho vợ chồng bà Hoàng Thị C, sinh năm 1982 và ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1978, trú tại: Thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên số tiền 60.000.000đồng tại bát họ lập ngày 10/3/2019.
- Cần buộc bị cáo T1 trả lại cho vợ chồng bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1973 và ông Đào Văn M1, sinh năm 1966, trú tại: Thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên số tiền 60.000.000đồng tại bát họ lập ngày 10/3/2019.
- Cần buộc bị cáo T1 trả lại cho vợ chồng bà Phạm Thị N1, sinh năm 1969 và ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1962, trú tại: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên số tiền 100.000.000đồng tại bát họ lập ngày 10/3/2019.
[7] Về vật chứng trong vụ án:
- Đối với 01 “Biên bản chơi họ tiền ngày 15/8/2019” và 01 “Biên bản chơi họ tiền ngày 10/3/2019” là tài liệu, chứng cứ liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[8] Đối với ông Nguyễn Xuân C2, sinh năm 1955, trú tại: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên có đơn trình báo về việc bị cáo T1 vay tiền và ông Nguyễn Đức P1, sinh năm 1956, trú tại: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên khai nhận về việc vay tiền của bị cáo T1 kết quả điều tra xác định là quan hệ vay nợ dân sự khác không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 2 Điều 136 của BLTTHS.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của BLTTHS.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 3 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 357, 468, 584, 585, 586 Bộ luật dân sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị T1 phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Thị T1 06 (S1) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 03/7/2024
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đặng Thị T1.
Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc bị cáo Đặng Thị T1 phải trả số tiền 60.000.000 đồng ( Sáu mươi triệu đồng) cho vợ chồng bà Trần Thị Đ, sinh năm 1968 và ông Nguyễn Đình T3, sinh năm 1965. Trú tại: Thôn Đ, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
- Buộc bị cáo Đặng Thị T1 phải trả số tiền 60.000.000 đồng ( Sáu mươi triệu đồng) cho vợ chồng bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1965 và ông Hoàng Văn N, sinh năm 1962. Trú tại: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
- Buộc bị cáo Đặng Thị T1 phải trả số tiền 60.000.000 đồng ( Sáu mươi triệu đồng) cho vợ chồng bà Trần Lệ Q, sinh năm 1981 và ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1983. Trú tại: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
- Buộc bị cáo Đặng Thị T1 phải trả số tiền 60.000.000 đồng ( Sáu mươi triệu đồng) cho vợ chồng bà Hoàng Thị C, sinh năm 1982 và ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1978. Trú tại: Thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
- Buộc bị cáo Đặng Thị T1 phải trả số tiền 60.000.000 đồng ( Sáu mươi triệu đồng) cho vợ chồng bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1973 và ông Đào Văn M1, sinh năm 1966. Trú tại: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
- Buộc bị cáo Đặng Thị T1 phải trả số tiền 100.000.000 đồng ( Một trăm triệu đồng) cho vợ chồng bà Phạm Thị N1, sinh năm 1969 và ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1962. Trú tại: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hợp lệ và Cơ quan Thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án, nếu bị cáo chưa thi hành xong khoản tiền phải trả lại cho các bị hại thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về xử lý vật chứng:
- Lưu theo hồ sơ vụ án 01 “Biên bản chơi họ tiền ngày 15/8/2019” và 01 “Biên bản chơi họ tiền ngày 10/3/2019”.
Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Thị T1 phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) án phí dân sự.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị T |
Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH H về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 139/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị Th phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
