|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 139 /2024/HS-ST
Ngày 21-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vũ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đời
Ông Hà Đồng Tịnh
- Thư ký phiên toà: Bà Trương Ngọc Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đào Đức Hữu - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 129/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo.
Nguyễn Tấn T (tên gọi khác: L), sinh năn 1992; Nghề nghiệp: Lái xe; nơi ĐKNKTT: Tổ G, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; chỗ ở: K N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn H (chết) và bà Phạm Thị H1, gia đình có 04 chị em, bị cáo là con út; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04/7/2019, bị Công an phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 76 (Đã chấp hành xong việc nộp phạt).
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
* Bị hại: Anh Lê Đức K, sinh năm 1985; địa chỉ: K đường L, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Bùi Văn T1, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ G, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
- Ông Bùi Văn T2, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ G, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
* Người làm chứng:
- Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1961; địa chỉ: Tổ G, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
- Ông Nguyễn Tấn H2, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ G, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05/7/2024, trong lúc Nguyễn Tấn T đang ở nhà tại K đường N (phường A, quận S, TP .), thấy điện thoại có cuộc gọi nhỡ của anh Lê Đức K (sinh năm: 1985; trú: K đường L, phường M, quận S, TP . – là bạn bè quen biết ngoài xã hội), T gọi lại cho anh K, thì anh K nói: “Mi đợi ta xí, ta tới nhà mi chừ”, rồi anh K tắt máy. Khoảng 05 phút sau, T nghe tiếng đập cửa trước nhà nên ra mở cửa thì thấy anh K đang đứng trước nhà, bên cạnh có 01 chiếc xe máy hiệu Sirius màu đỏ-đen của anh K. Do bực tức nên T lấy 01 cây gậy bằng gỗ (dài khoảng 01m27, rộng khoảng 04 cm, dày khoảng 02cm, các cạnh của cây gỗ đã được mài nhẵn) có trong sân nhà cầm trên tay phải đánh liên tiếp khoảng 03 đến 04 cái vào người của anh K thì anh K đưa cánh tay trái giơ lên đỡ. Lúc này, mẹ ruột của T là bà Phạm Thị H1 (sinh năm: 1961), ở trong nhà chạy ra can ngăn, nên anh K điều khiển xe mô tô bỏ đi, còn T ngồi trước nhà để hút thuốc, thì thấy 01 ĐTDĐ hiệu Samsung, màu đen của anh K đánh rơi dưới đất nên gọi điện thoại cho anh Bùi Văn T1 (sinh năm: 1984; trú: K đường P, phường A, quận S, TP.Đà Nẵng – là bạn của anh K) ghé đến nhà T lấy điện thoại đem về cho anh K nhưng anh T1 không đồng ý. Thôi tiếp tục gọi điện cho em ruột của anh T1 là anh Bùi Văn T2 (N; sinh năm: 1987; cùng trú địa chỉ với anh T1) đến lấy điện thoại mang về cho anh K. Khoảng 05 phút sau, anh T2 đến, T chỉ chiếc điện thoại của anh K cho anh T2 đến nhặt về đưa lại cho anh K, rồi vào nhà đi ngủ. Về phần anh K, trên đường về thì gặp anh T1, nên anh T1 đưa anh K đi bệnh viện.
Sáng ngày 06/7/2024, cha ruột của anh K đến Công an phường A trình báo vụ việc. Công an phường A đã mời Thôi về trụ sở để làm việc và T đã thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm nêu trên.
* Hậu quả: Tại Bản kết luận giám định số: 179 ngày 13/8/2024 của Trung tâm Pháp y – Sở Y, kết luận thương tích của anh Lê Đức K:
- + Chấn thương tay trái (gây mõm khuỷu, trật khớp quay trụ trên trái, gãy 1/3 giữa và 1/3 dưới xương trụ trái) đã phẫu thuật nắn chỉnh các ổ gãy và khớp quay trụ trên, kết hợp xương các ổ gãy, bất động tay trái trong máng bột. Hiện tại đã tháo bột bất động, các vết mổ bên ngoài đã lành tạo sẹo, không tê bì, không rối loạn cảm giác các ngón tay, vận động cẳng tay được, vận động cổ tay và các ngón tay trong giới hạn bình thường.
- + Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là: 23%.
- + Tổn thương trên là do ngoại lực tác động trực tiếp và vật tác động phù hợp với vật tày gây ra.
Ngày 09/7/2024, anh Lê Đức K có đơn yêu cầu giám định thương tích. Đến ngày 14/8/2024, anh K có đơn yêu cầu khởi tố khởi tố vụ án hình sự.
* Tang vật tạm giữ:
- - 01 cây gậy bằng gỗ (dài khoảng 01m27, rộng khoảng 04 cm, dày khoảng 02cm, các cạnh của cây gỗ đã được mài nhẵn), đã qua sử dụng (do Nguyễn Tấn T giao nộp).
- - 20.000.000 đồng là tiền Nguyễn Tấn T giao nộp để khắc phục hậu quả.
* Về dân sự: anh Lê Đức K yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 74.500.000 đồng là tiền chi phí nằm viện, ngày công lao động của bị hại và người chăm sóc.
Bản cáo trạng số 128/CT-VKS-ST ngày 01/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà truy tố bị cáo Nguyễn Tấn T về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ (thuộc điểm a khoản 1) khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm đ (thuộc điểm a khoản 1) khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị HĐXX tuyên:
Đối với 01 cây gậy bằng gỗ (dài khoảng 01m27, rộng khoảng 04 cm, dày khoảng 02 cm, các cạnh của cây gỗ đã được mài nhẵn), đã qua sử dụng (do Nguyễn Tấn T giao nộp) đây là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 20.000.000 đồng là tiền Nguyễn Tấn T giao nộp để khắc phục hậu quả, cần tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị hại Lê Đức K yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 74.500.000 đồng là tiền chi phí nằm viện, ngày công lao động và người chăm sóc, tuy nhiên tại phiên tòa bị hại thay đổi yêu cầu chỉ yêu cầu bồi thường số tiền 35.000.000 đồng. Bị cáo chấp nhận bồi thường số tiền 35.000.000 đồng theo yêu cầu của bị hại. Do đó, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 35.000.000 đồng.
Bị cáo không tranh luận, đối đáp gì với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin lỗi bị hại, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện như sau: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05/7/2024, tại K đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Tấn T đã có hành vi dùng 01 cây gậy bằng gỗ dài khoảng 01m27, rộng khoảng 04 cm, dày khoảng 02 cm, các cạnh của cây gỗ đã được mài nhẵn đánh vào tay anh Lê Đức K gây thương tích với tỷ lệ 23%. Hội đồng xét xử xác định bị cáo Nguyễn Tấn T đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ, hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Do bị cáo Nguyễn Tấn T đã sử dụng rượu bia, khi xảy ra một mâu thuẫn nhỏ, không kiềm chế làm chủ được bản thân dẫn đến đánh nhau, gây hậu quả nghiêm trọng. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết hành vi dùng 01 cây gậy bằng gỗ dài khoảng 1m27 đánh gây thương tích ở cánh tay trái bị hại là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp hậu quả, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện tính côn đồ và xem thường pháp luật, xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 04/7/2019, bị Công an phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 76 (Đã chấp hành xong việc nộp phạt). Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những bị cáo trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã nộp 20.000.000 đồng để khắc phục trước một phần về hậu quả bồi thường thiệt hại cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tiền chi phí nằm viện điều trị, thuốc men, ngày công lao động và người chăm sóc là 74.500.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị hại thay đổi yêu cầu chỉ yêu cầu bồi thường số tiền là 35.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Xét bị cáo đã tự nguyện nộp bồi thường 20.000.000 đồng, nên cần buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 15.000.000 đồng.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cây gậy bằng gỗ (dài khoảng 01m27, rộng khoảng 04 cm, dày khoảng 02 cm, các cạnh của cây gỗ đã được mài nhẵn), đã qua sử dụng do Nguyễn Tấn T giao nộp, đây là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 20.000.000 đồng là tiền Nguyễn Tấn T tự nguyện giao nộp để khắc phục trước một phần về hậu quả bồi thường thiệt hại cho bị hại Lê Đức K, nên cần tiếp tục quy trữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
(Các vật chứng, tài sản trên (20.000.000 đồng không phải là vật chứng) hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/11/2024).
[6] Về vấn đề khác: Đối với việc Nguyễn Tấn T khai anh K đã nhiều lần có hành vi gọi điện thoại đe dọa giết Thôi, trong khi đó Lê Đức K không thừa nhận việc gọi điện thoại đe dọa giết Thôi. Ngày 30/10/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà đã có Công văn số 120, đề nghị Cơ quan CSĐT Công an quận S tách nguồn tin để tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý theo đúng quy định của pháp luật, nên HĐXX không đề cập giải quyết.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 15.000.000 x 5% = 750.000 đồng.
[8] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về áp dụng điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự.
Buộc Nguyễn Tấn T phải bồi thường cho anh Lê Đức K số tiền 35.000.000 đồng. Do bị cáo tự nguyện nộp 20.000.000 đồng, số tiền còn phải bồi thường 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
Kể từ ngày anh Lê Đức K yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng Nguyễn Tấn T còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 cây gậy bằng gỗ (dài khoảng 01m27, rộng khoảng 04 cm, dày khoảng 02 cm, các cạnh của cây gỗ đã được mài nhẵn), đã qua sử dụng (do Nguyễn Tấn T giao nộp).
Quy trữ số tiền 20.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Tấn T tự nguyện giao nộp khắc phục hậu quả để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng, tài sản hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/11/2024).
- Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Nguyễn Quốc Vũ |
Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 139/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tấn T phạm tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ (thuộc điểm a khoản 1) khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phát .2 năm 06 tháng tù.
