Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2024/HS-PT

Ngày: 15/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thúy Hằng;

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Diệp

Ông Trần Tuấn Vũ

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 142/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Thị T và Vũ Thị H, do có kháng cáo của bị cáo Phạm Thị T và bị cáo Vũ Thị H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2024/HS-ST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Phạm Thị T, sinh năm 1973, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: Khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N và bà Trần Thị T1; chồng: Lê Công L; con: Có 02 người, người lớn sinh năm 1993, người nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị tạm giữ ngày 21-12-2023, đến ngày 30-12-2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà.
  2. Vũ Thị H, sinh năm 1979, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Trọng T2 (Đã chết) và bà Hoàng Thị K; chồng: Du Thanh P; con: Có 03 người, người lớn nhất sinh năm 2004, người nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị tạm giữ ngày 20-12-2023, đến ngày 29-12-2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thị T: Ông Hồ Dương L1 – Công ty L3 thuộc đoàn luật sư T8; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 35 phút, ngày 20-12-2023, tại khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, Công an thị xã T phối hợp với Công an phường A, thị xã T tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Vũ Thị H đang tổ chức đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức bán số đề đài miền N cho Nguyễn Thị T3, Trương Thị Tuyết N1, Cao Thị T4 và một số người khác rồi giao lại cho Phạm Thị T để hưởng tiền chênh lệch. Thu giữ của H: Tiền Việt Nam 10.500.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và một số vật chứng khác có liên quan.

Qua điều tra, thể hiện: Vũ Thị H và Phạm Thị T là hàng xóm của nhau, biết H có bán số đề nên khoảng đầu tháng 12-2023, T bàn bạc, thỏa thuận với H cùng nhau tổ chức đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức bán số đề đài miền N cho những người chơi nhằm thu lợi bất chính. Hàng ngày, những người chơi sẽ gặp trực tiếp, gọi điện thoại hoặc nhắn tin qua mạng xã hội Zalo của H có tên tài khoản là “Hoa Vu” để ghi số đề; ngoài ra, H còn tự mua riêng số đề cho H rồi tổng hợp lại thành phơi đề và nhắn tin qua mạng xã hội Zalo có tên tài khoản là “A D” giao cho T để hưởng tiền chênh lệch từ 3%-5%. Sau khi nhận phơi đề, T sẽ tính tiền thắng thua và thỏa thuận giao nhận tiền với H vào ngày hôm sau để H thanh toán lại cho những người chơi.

Với hình thức trên, ngày 20-12-2023, Vũ Thị H tiếp tục tổ chức bán số đề đài miền N cho 12 người gồm: Nguyễn Thị T3 với số tiền là 162.000 đồng, tiền trúng đề là 210.000 đồng; Cao Thị T4 với số tiền là 72.000 đồng; Trương Thị Tuyết N1 với số tiền là 270.000 đồng, tiền trúng đề là 350.000 đồng; Vũ Thị H1 với số tiền là 368.000 đồng; Nguyễn Thị T5 với số tiền là 1.656.000 đồng; Cao Thị L2 với số tiền là 540.000 đồng; Nguyễn Thị Thu H2 với số tiền là 1.620.000 đồng, tiền trúng đề là 2.100.000 đồng; Nguyễn Thị Kim Á với số tiền là 1.080.000 đồng, tiền trúng đề là 700.000 đồng; Nguyễn Thị G với số tiền là 402.000 đồng, tiền trúng đề là 210.000 đồng; Du Thị Ngọc T6 với số tiền là 1.199.000 đồng, tiền trúng đề là 700.000 đồng; 02 người tên “M”, “bà H3” (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền là 534.000 đồng và H trực tiếp mua số đề với số tiền là 5.899.000 đồng, tiền trúng đề là 8.400.000 đồng; sau đó H tổng hợp lại thành phơi đề và giao toàn bộ cho Phạm Thị T.

Tổng số tiền T tổ chức đánh bạc là 26.472.000 đồng, thu lợi bất chính được số tiền 1.132.000 đồng. Tổng số tiền H tổ chức đánh bạc là 12.173.000 đồng, thu lợi bất chính được số tiền 458.000 đồng và số tiền mà H đánh bạc là 14.299.000 đồng.

Riêng T, ngoài nhận thầu số đề do H giao, T còn trực tiếp nhắn tin cho Nguyễn Hiếu T7 qua mạng xã hội Zalo có tên tài khoản là “Vo Nhung” để mua số đề đài miền N với số tiền là 1.188.000 đồng, tiền trúng đề là 2.200.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HSST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

  1. Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
  2. Xử phạt bị cáo Phạm Thị T 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21-12-2023 đến ngày 30-12-2023.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
  4. Xử phạt bị cáo Vũ Thị H 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.

    Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Vũ Thị H 06 (S) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

    Phạt bổ sung bị cáo Vũ Thị H số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

    Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt bị cáo Vũ Thị H phải chấp hành là 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20-12-2023 đến ngày 29-12-2023.

Ngày 19/8/2024 bị cáo Phạm Thị T, Vũ Thị H kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T, bị cáo H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H, bị cáo T. giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo T tranh luận: Do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên bị cáo mới phạm tội, bị cáo ăn năn hối cải xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

Bị cáo H không tranh luận.

Người bào chữa cho bị cáo T ông Hồ Dương L1 trình bày: bị cáo T đã thừa nhận hành vi phạm tội; do chưa xác định được họ tên địa chỉ của 02 người ghi đề nên đề nghị không áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự theo hướng có lợi cho bị cáo T. Bị cáo đã ăn năn hối cải, trong vụ án này là đồng phạm giản đơn, xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù là nghiêm khắc, phạm tội do hoàn cảnh khó khăn, dịch bệnh. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm như đã trình bày.

Lời nói sau cùng của bị cáo T, bị cáo H: 02 bị cáo đều ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho 02 bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm.

[2] Về hành vi của các bị cáo: Vào ngày 20-12-2023, tại khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, Vũ Thị H và Phạm Thị T đã tổ chức đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức bán số đề đài miền N nhằm thu lợi bất chính. Cụ thể, T tổ chức bán số đề cho 13 người với tổng số tiền dùng đánh bạc là 26.472.000 đồng; trong đó, H giúp sức cho T tổ chức bán số đề cho 12 người với tổng số tiền dùng đánh bạc là 12.173.000 đồng và H trực tiếp đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức mua số đề đài miền N với tổng số tiền dùng đánh bạc là 14.299.000 đồng.

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Do đó đủ căn cứ kết luận bị cáo Vũ Thị H phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322, khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Phạm Thị T phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo các điểm a, c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Thị T và Vũ Thị H thấy rằng:

Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với 02 bị cáo: 02 bị cáo không có tình tiết tăng nặng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo H phạm tội Đánh bạc lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này bị cáo T là người chủ mưu, rủ rê bị cáo H cùng tham gia đánh bạc với hình thức bán số đề và hứa hẹn sẽ cho bị cáo H được hưởng tiền chênh lệch nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với bị cáo H. Đối với bị cáo H tham gia giúp sức cho bị cáo T trong việc bán số đề, ngoài ra bị cáo còn trực tiếp tham gia mua số đề của bị cáo T nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của bị cáo.

Cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Phạm Thị T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù tội “Tổ chức đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Vũ Thị H 01 (một) năm tù tội “Tổ chức đánh bạc” và 06 (sáu) tháng tù tội “Đánh bạc” là phù hợp với tính chất mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Tại cấp phúc thẩm; bị cáo T cung cấp đơn cứu xét do còn nuôi con đang đi học và nuôi chồng bị tai biến; bị cáo là lao động chính của gia đình; có cha là Phạm Văn N tham gia dân công hỏa tuyến chống pháp, chống Mỹ. Bị cáo H cung cấp đơn xin xem xét do hoàn cảnh có 03 người con đang ăn học; có ông nội là Vũ Văn K1 tham gia dân công hỏa tuyến, mẹ là Hoàng Thị K là thanh niên xung phong. Do đó xem xét giảm 01 phần hình phạt cho các bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Lời bào chữa của luật sư đề nghị không áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự không có cơ sở, bởi lẻ theo phơi đề thể hiện sau khi trừ 02 đối tượng không rõ địa chỉ ra thì còn 10 người cùng bị cáo H là 11 người thỏa mãn quy định điểm a, khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

[4] Về án phí: Bị cáo Phạm Thị T và Vũ Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Chấp nhận 01 phần kháng cáo của bị cáo Phạm Thị T và Vũ Thị H.

- Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HS-ST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

  1. Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
  2. Xử phạt bị cáo Phạm Thị T 01 (Một) năm tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21-12-2023 đến ngày 30-12-2023.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
  4. Xử phạt bị cáo Vũ Thị H 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.

    Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Vũ Thị H 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

    Phạt bổ sung bị cáo Vũ Thị H số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

    Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt bị cáo Vũ Thị H phải chấp hành là 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20-12-2023 đến ngày 29-12-2023.

  5. Án phí: Bị cáo Phạm Thị T và Vũ Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 (TANDTC);
  • - VKSND. TTN;
  • - TAND. thị xã Trảng Bàng;
  • - Chi cục THADS. thị xã Trảng Bàng;
  • - Công an thị xã Trảng Bàng;
  • - Phòng PV 06 CATTN;
  • - Phòng lý lịch STP. TTN;
  • - Phòng KTNV. TATTN;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án HSPT.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Dương Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/HS-PT ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 139/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T tổ chức đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger