TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 139/2024/HSST Ngày 08/11/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
*Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Hà.
*Các Hội thẩm nhân dân : - 1. Ông Tạ Văn Doanh.
-2. Bà Nguyễn Thị Công Mừng.
* Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà La Thị Xuân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Khắc Tú - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07 và 08 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 122/2024/HSST ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2024/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 61/2024/QĐST - HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Diệp Văn S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 21/12/1992, tại: Huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn G, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 08/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Bố đẻ: Diệp Văn T, sinh năm 1965; Mẹ đẻ: Leo Thị S1, sinh năm 1968; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo ra đầu thú, bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 01/9/2024, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú. Vắng mặt khi tuyên án.
Bị hại: Đàm Đức V, sinh năm 1967. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Thị T1, sinh năm 1969. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang
- Nguyễn Thị C, sinh năm 1981. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang
-Người làm chứng:
Diệp Văn Q, sinh năm 1987. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn G, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Ngô Văn C1, sinh năm 1972. Có mặt.
Địa chỉ: B, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 22/4/2024, ông Đàm Đức V, sinh năm 1967, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang cùng ông Ngô Văn C1, sinh năm 1972, trú tại thôn B, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang, đến thôn G, xã Q, huyện L ăn cơm, uống rượu. Đến khoảng hơn 13 giờ cùng ngày, ông V và ông C1 ra về và đi vào quán C2, địa chỉ tại thôn G, xã Q, huyện L, do chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1981, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang làm chủ quán. Khoảng 13 giờ 50 phút, khi trả tiền uống nước, ông V có tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng nhưng không trả mà lại dùng tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng để trả, chị C phàn nàn thì bị ông V to tiếng, chửi mắng. Nghe thấy ồn ào thì có anh Diệp Văn Q, sinh năm 1987 và Diệp Văn S, sinh năm 1992, trú cùng thôn, là hàng xóm của chị C sang xem và can ngăn. Tại đây ông V tiếp tục chửi mắng chị C và chửi cả anh Q, S. Thấy vậy S lao vào xô đẩy với ông V và dùng tay phải cầm 01 chiếc điếu cày, màu nâu đen, được làm bằng tre, một đầu được quấn băng dính màu đen, một đầu được bọc kim loại màu trắng, tổng chiều dài 65,5cm, đường kính 4,5cm, để trong xô dưới gầm bàn trong quán café đập 01 nhát, trúng vào vùng đầu của ông V, khiến ông V bị thương, còn chiếc điếu cày rơi tại quán. Những người xung quanh lao vào căn ngăn thì S bỏ về nhà, ông V được đưa đi sơ cứu vết thương tại Trạm y tế xã Q, huyện L. Đến ngày 25/4/2024 thấy biểu hiện sức khỏe không tốt nên gia đình đã đưa ông V đến Trung tâm y tế huyện L điều trị.
Ngày 07/5/2024, bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1969, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang là vợ của ông Đàm Đức V đã có đơn trình báo, gửi Công an xã Q, huyện L yêu cầu giải quyết. Ngày 01/7/2024, ông Đàm Đức V tiếp tục có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, yêu cầu giải quyết vụ việc.
Sau khi tiếp nhận, cùng ngày 07/5/2024 Công an xã Q đã lập biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra sự việc, quá trình làm việc đã lập bản ảnh, vẽ sơ đồ hiện trường. Đồng thời thu giữ: 01 (một) chiếc điếu cày, màu nâu đen, được làm bằng tre, một đầu được quấn băng dính màu đen, một đầu được bọc kim loại màu trắng, tổng chiều dài 65,5cm, đường kính 4,5cm, một đầu điếu cày đã bị vỡ; 01 (một) đĩa CD màu vàng, nhãn hiệu Maxell, bên trong lưu trữ 04 (bốn) đoạn video trích xuất tại hiện trường, do chị Nguyễn Thị C tự nguyện giao nộp. Ngày 13/5/2024, Công an xã Q đã chuyển hồ sơ, tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 18/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định truy tìm số 627 đối với Diệp Văn S. Đến ngày 01/9/2024, S đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để đầu thú và khai nhận hành vi như diễn biến đã nêu trên.
Ngày 11/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho ông Đàm Đức V xác định hiện trường nơi xảy ra sự việc, lập biên bản, bản ảnh, vẽ sơ đồ hiện trường. Quá trình làm việc không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 11/7 và 04/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành cho ông Đàm Đức V và Diệp Văn S xem lại video và hình ảnh đã trích xuất từ camera an ninh quán cafe 81 do chị Nguyễn Thị C là chủ quán, nơi xảy ra sự việc. Kết quả ông V và S xác định người trong video và hình ảnh là Diệp Văn S đã cầm điều cày đánh gây thương tích cho ông V.
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 26 ngày 20/5/2024 của Trung tâm y tế huyện L, tỉnh Bắc Giang xác định tình trạng thương tích lúc vào viện của ông Đàm Đức V: Vùng trán có 03 (ba) vết thương: Vết thương dài 06cm đã khâu cầm máu; Vết thương xước da 02cm khô và 04cm khô; Vùng sống mũi có vết thương xước da 01cm khô.
Ngày 29/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành trưng cầu mức độ tổn hại (%) sức khỏe đối với thương tích của ông V. Tại bản Kết luận giám định số 2337 ngày 03/6/2024 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B xác định: “Dấu hiệu chính qua giám định: Thương tích vết sẹo vùng trán kích thước (4x0,1)cm: 3%; Thương tích vết sẹo vùng trán kích thước (1,2x0,1)cm: 3%; Thương tích vết sẹo vùng trán kích thước (2x0,1)cm: 3%; Thương tích chạm thương vùng mũi không còn dấu vết: 0%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đàm Đức V tại thời điểm giám định là: 9%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y. Cơ chế, vật, chiều hướng gây thương tích: Các thương tích do vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng.”.
Ngày 11/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho ông Đàm Đức V nhận dạng qua bản ảnh đối với người đã gây thương tích cho ông. Kết quả ông V nhận dạng đúng và xác định Diệp Văn S là người đã dùng điếu cày, đánh gây thương tích cho ông vào ngày 22/4/2024.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận đúng hành vi phạm tội của bản thân.
Tại bản cáo trạng số: 134/ CT - VKS ngày 03 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Diệp Văn S về tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với bị cáo và đề xuất ý kiến xử phạt bị cáo như sau:
- Căn cứ điểm điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Diệp Văn S từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
* Về Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho ông Đàm Đức V số tiền 15.000.000đ. Ông V đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Nên không đặt ra xem xét giải quyết.
* Về xử ý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc điếu cày, màu nâu đen, một đầu được bọc kim loại màu trắng, tổng chiều dài 65,5cm, đường kính 4,5cm.
* Về án phí: Căn cứ Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Diệp Văn S khai nhận đúng hành vi phạm tội và thừa nhận Cáo trạng viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo xin lỗi ông V.
Bị hại là ông Đàm Đức V xác định đã được bị cáo bồi thường xong phần trách nhiệm dân sự, nay ông không có yêu cầu gì thêm. Về hình phạt đối với bị cáo: Do sau khi sự việc xảy ra, bị cáo bỏ đi luôn không đưa ông đi viện kiểm tra, chưa nhận thức được hành vi sai trái của mình nên ông đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, nhưng đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ, có đơn xin xét xử vắng mặt nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; lời khai của người làm chứng, phù hợp với giấy chứng nhận thương tích, kết luận giám định, kết quả thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Do vậy đủ căn cứ xác định khoảng 14 giờ ngày 22/4/2024, tại quán C2 thuộc thôn G, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Diệp Văn S, sinh năm 1992 đã có hành vi dùng 01 (một) chiếc điếu cày, màu nâu đen, được làm bằng tre, một đầu được quấn băng dính màu đen, một đầu được bọc kim loại màu trắng, tổng chiều dài 65,5cm, đường kính 4,5cm, đập 01 (một) nhát vào vùng đầu của ông Đàm Đức V, sinh năm 1967, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hậu quả khiến ông V bị tổn thương cơ thể 9%, chiếc điếu cày bị hư hỏng.
Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Diệp Văn S phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố đối với bị cáo.
[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trật tự trị an ở địa phơng, xâm hại tới sức khoẻ của ngời khác, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Nên phải cần một bản án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Về nhân thân, bị cáo là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khi bị phát hiện đã ra đầu thú, có ông nội được tặng thưởng huy chương kháng chiến. Nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Do bị cáo phạm tội cố ý với bị hại. Bản thân chưa nhận thức được hết hậu quả hành vi phạm tội của bản thân. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cần áp dụng Điều 38 BLHS cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho ông Đàm Đức V số tiền 15.000.000đ. Ông V đã nhận đủ số tiền nêu trên và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Bà Nguyễn Thị T1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm, Nguyễn Thị C không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về chiếc điếu cày, có đặc điểm nêu trên. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đối với 01 (một) chiếc điếu cày, màu nâu đen, được làm bằng tre, một đầu được quấn băng dính màu đen, một đầu được bọc kim loại màu trắng, tổng chiều dài 65,5cm, đường kính 4,5cm là vật ít giá trị và phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Căn cứ Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có mặt biết được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Diệp Văn S 12 ( mười hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc điếu cày, màu nâu đen, được làm bằng tre, một đầu được quấn băng dính màu đen, một đầu được bọc kim loại màu trắng, tổng chiều dài 65,5cm, đường kính 4,5cm theo biên bản giao vật chứng ngày 09/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các Điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Ngọc Hà |
Bản án số 139/2024/HSST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 139/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Diệp Văn S - Cố ý gây thương tích
