Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN KIẾN AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2024/HS-ST

Ngày 06-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà

Các Hội Thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Chính

Ông Nguyễn Công Biên

- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Dương Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 145/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 158/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 10 tháng 01 năm 1988 tại Hải Phòng; nơi cư trú:

Cụm H, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị N; chưa vợ con; Tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 27/2012/HS-ST ngày 10/7/2012 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; Nhân thân: Bản án số 35/2018/HS-ST ngày 26/9/2018 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2024, chuyển tạm giam ngày 17/7/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 40 ngày 12 tháng 7 năm 2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Nguyễn Văn T đi xe môtô biển kiểm soát:16N7-0623 đến khu vực số nhà I đường Q, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng để mua ma tuý đá. Đến nơi, T đưa số tiền 200.000 đồng qua lỗ cửa, người trong nhà cũng đưa ma túy qua lỗ cửa cho T, rồi T cất giấu số ma túy trên vào hộp đựng điện thoại phía bên trái trước gương chiếu hậu của xe môtô và đi về. Đến khoảng 09 giờ 50 phút cùng ngày, T đi đến khu vực số B Quán T, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng thì bị tổ công tác Công an quận K kiểm tra, bắt quả tang cùng vật chứng. Thu giữ bên trong hộp đựng điện thoại phía bên trái trước gương chiếu hậu của xe môtô 01 túi nilon trong suốt (kích thước 02x02cm) có viền mép màu đỏ chứa tinh thể màu trắng; 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu vàng biển kiểm soát:16N7-0623.

Tại Kết luận giám định số 887/KL-KTHS ngày 16/7/2024 của Phòng K kết luận: “chất bột màu trắng gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,15 gam, loại: Methamphetamine”.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy, thể hiện Nguyễn Văn T dương tính với chất ma tuý Methamphetamine.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T tại thôn H, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng, không thu giữ được đồ vật, tài sản liên quan.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận phù hợp với nội dung trên. T nghiện ma túy từ cuối năm 2017. Mục đích T cất giữ ma túy để sử dụng cá nhân. Số tiền 200.000 đồng T sử dụng để mua ma túy là do lao động mà có. T không nhận dạng được người bán ma túy, vì T không nhìn thấy mặt người này mà chỉ nhìn thấy tay nên biết đó là phụ nữ. T đã nhiều lần T mua ma túy tại địa điểm này và đã sử dụng hết, nhưng không nhớ rõ thời gian. Nguồn gốc xe mô tô bị thu giữ, T mua của một người không quen biết trên mạng xã hội, T đã làm mất đăng ký xe.

Tại bản Cáo trạng số 147/CT-VKSKA ngày 22 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng, và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn T: 24 - 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ từ ngày tạm giữ.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp để sớm trở về với cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Hồi 09 giờ 50 phút ngày 12/7/2024, bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,15 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cá nhân thì bị bắt quả tang tại khu vực số B Quán T, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

[3] Bị cáo Nguyễn Văn T có hành vi cất giấu trái phép 0,15 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực số B Quán T, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng nên bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Các loại tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng và bức xúc trong nhân dân. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Về nhân thân: Bị cáo T có 01 tiền án: Bản án số 35/2018/HS-ST ngày 26/9/2018 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Ngày 27/9/2020, chấp hành xong án phạt tù, thi hành xong án phí vào ngày 29/11/2018. Căn cứ Điều 70, Điều 73 Bộ luật Hình sự tiền án trên đã xoá án tích nhưng vẫn coi bị cáo có nhân thân không tốt.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản án số 27/2012/HS-ST ngày 10/7/2012 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 21/9/2015, ngày 22/10/2012 đã nộp xong án phí hình sự và dân sự. Đối với số tiền bồi thường dân sự 20 triệu đồng cho gia đình bị hại, bị cáo chưa bồi thường.

Căn cứ Điều 70, Điều 73 Bộ luật Hình sự tiền án trên bị cáo chưa được xoá án tích, nhưng lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này của bị cáo phạm vào tình tiết định khung tăng nặng “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.

- Về hình phạt:

[8] Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn và ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[9] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định trước khi bị bắt nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

- Về vật chứng:

[10] Đối với ma tuý sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ.

- Về án phí:

[11] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[12] Về các nội dung khác:

Quá trình điều tra xác minh, xác định đối tượng bán ma túy trong nhà số I đường Q, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng là Lê Thị L (sinh năm: 1952) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã xác lập chuyên án triệt phá tụ điểm bán ma túy này. Ngày 30 tháng 8 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với Lê Thị L về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự để tiếp tục điều tra làm rõ trong một vụ án khác.

Đối với việc T khai trước đó đã nhiều lần mua ma túy tại khu vực số nhà I đường Q, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng. Ngoài lời khai của T, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu thập được các tài liệu chứng cứ khác nên không đủ cơ sở kết luận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T: 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 bì thư dán kín, niêm phong số 887/MT/PC09 ngày 12/7/2024 của Phòng K.

(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/10/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Kiến An;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - PV 06 Công an TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan điều tra Công an quận Kiến An;
  • - Cơ quan THAHS Công an quận Kiến An;
  • - Chi cục THADS quận Kiến An;
  • - Cơ sở giam giữ bị cáo;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VT; HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngọc Ngà

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý (criminal case)

  • Số bản án: 139/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Có tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger