Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2024/DS-ST

Ngày: 27/9/2024

V/v: "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Ngọc Yến Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bạch Long Hạc

Nguyễn Thị Thu Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 133/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP T4 (P);

Địa chỉ trụ sở: Tầng A, 23, 24 Tòa nhà M, số B T, phường N, Quận Đ, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Mạnh T - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Ngọc L - Chức vụ: Giám đốc P - Chi nhánh K1 (Theo Quyết định ủy quyền số 98/2024/QĐ-TQĐ ngày 13/3/2024 của Chủ tịch Hội đồng quản trị P).

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Hữu T1, chức vụ: CV xử lý và thu hồi nợ - Ngân hàng TMCP X (Theo Giấy ủy quyền số 321/2023/UQ-GĐ ngày 20/10/2023 của Giám đốc P - Chi nhánh K1); Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  • Bị đơn: Ông Thái Đăng K và bà Huỳnh Thị Anh T2;

Cùng địa chỉ: S đường C Khu đô thị L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần B; Địa chỉ trụ sở: STH 28A.12 đường số A, khu đô thị M, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Quang H - Chức vụ: Tổng Giám đốc; Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải, nguyên đơn Ngân hàng TMCP T4 (P) trình bày:

Khách hàng ông Thái Đăng K và bà Huỳnh Thị Anh T2 vay vốn tại P - Chi nhánh K1 theo 03 Hợp đồng tín dụng sau:

  1. Hợp đồng tín dụng số 0454/2021/KH/HĐTD-CN/PGBank ngày 15/10/2021 với những nội dung chính như sau: Số tiền cho vay: 500.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng chẵn); Thời hạn cho vay: 60 tháng; Mục đích sử dụng vốn vay: Sửa chữa nhà tại lô số STH36.06, thuộc dự án khu đô thị M, thành phố N, Khánh Hòa; Lãi suất cho vay trong hạn: Theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận cụ thể tại Khế ước nhận nợ và được điều chỉnh như sau: Lãi suất cho vay được điều chỉnh vào ngày đầu tiên hàng quý và được tính bằng: lãi suất huy động tiết kiệm VND kỳ hạn 12 tháng (cuối kỳ) cao nhất cộng (+) biên độ 4,1%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn trên số dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả; Lãi suất chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Thực hiện Hợp đồng tín dụng này, P1 đã giải ngân cho Khách hàng 01 lần với tổng số tiền là 500.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ số 01/0454/2021/KH/KUNN-CN/PGBank ngày 15/10/2021.

  1. Hợp đồng tín dụng số 0464/2021/KH/HĐTD-CN/PGBank ngày 22/10/2021 với những nội dung chính như sau: Số tiền cho vay: 250.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm năm mươi triệu đồng chẵn); Thời hạn cho vay: 60 tháng; Mục đích sử dụng vốn vay: Sửa chữa nhà tại lô số STH36.06, thuộc dự án khu đô thị M, thành phố N, Khánh Hòa; Lãi suất cho vay trong hạn: Theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận cụ thể tại Khế ước nhận nợ và được điều chỉnh như sau: Lãi suất cho vay được điều chỉnh vào ngày đầu tiên hàng quý và được tính bằng: lãi suất huy động tiết kiệm VND kỳ hạn 12 tháng (cuối kỳ) cao nhất cộng (+) biên độ 4,1%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn trên số dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả; Lãi suất chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Thực hiện Hợp đồng tín dụng này, P1 đã giải ngân cho Khách hàng 01 lần với tổng số tiền là 250.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ số 01/0464/2021/KH/KUNN-CN/PGBank ngày 22/10/2021.

  1. Hợp đồng tín dụng số 0545/2021/KH/HĐTD-CN/PGBank ngày 17/12/2021 với những nội dung chính như sau: Số tiền cho vay: 800.000.000 đồng (Bằng chữ: Tám trăm triệu đồng chẵn); Thời hạn cho vay: 120 tháng; Mục đích sử dụng vốn vay: Sửa chữa nhà tại lô số STH36.06, thuộc dự án khu đô thị M, thành phố N, Khánh Hòa; Lãi suất cho vay trong hạn: Theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận cụ thể tại Khế ước nhận nợ và được điều chỉnh như sau: Lãi suất cho vay được điều chỉnh vào ngày đầu tiên hàng quý và được tính bằng: lãi suất huy động tiết kiệm VND kỳ hạn 12 tháng (cuối kỳ) cao nhất cộng (+) biên độ 4,1%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn trên số dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả; Lãi suất chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Thực hiện Hợp đồng tín dụng này, P1 đã giải ngân cho Khách hàng 01 lần với tổng số tiền là 800.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ SO 01/0545/2021/KH/KUNN-CN/PGBank ngày 17/12/2021.

Tài sản bảo đảm cho các khoản vay nêu trên của Khách hàng tại P là:

  • Toàn bộ các Quyền, lợi ích của bên thế chấp phát sinh từ Hợp đồng mua bán nhà số II-STH36.06-HĐMB-09062016 ngày 09/06/2016 và các Phụ lục (nếu có) giữa ông Thái Đăng K với Công ty cổ phần B thuộc dự án Khu đô thị M, địa chỉ thành phố N, Khánh Hòa; Nhà ở của bên thế chấp theo Hợp đồng mua bán nhà ở có thông tin cụ thể: Căn nhà số S, thuộc dự án KĐT mới Lê Hồng Phong I, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa: Ký hiệu: STH36.06; Số mặt tiền: 01 mặt tiền; Diện tích: 90 m² (chín mươi mét vuông); Sử dụng riêng: 90 m²; Sử dụng chung: 0 m²; Tiếp giáp đường số: 3B; Loại nhà ở: Liền kề; Thời hạn sử dụng đất: Lâu dài.
  • Toàn bộ các Quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán nhà ở: Quyền đòi nợ, các khoản phải thu, quyền yêu cầu thanh toán, quyền được bồi thường thiệt hại, quyền thụ hưởng bảo hiểm phát sinh từ Hợp đồng mua bán nhà ở và các văn bản liên quan đến Hợp đồng mua bán nhà ở; Lợi tức, các lợi ích khác thu được từ quyền tài sản phát sinh và/hoặc liên quan đến Hợp đồng mua bán nhà ở và các văn bản liên quan đến Hợp đồng mua bán nhà ở và/hoặc liên quan đến quyền tài sản nêu tại điểm a, b khoản 2 Điều 2 Hợp đồng thế chấp, bao gồm nhưng không giới hạn bởi: Toàn bộ các tài sản hình thành/phát sinh/thu được (bao gồm cả tài sản hình thành trong tương lai), các quyền, lợi ích, lợi nhuận phát sinh từ quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền khai thác, định đoạt nhà ở (hoa lợi, lợi tức, quyền nhận tiền đền bù, tiền bồi thường, quyền nhận tiền cho thuê, các quyền khác đối với tài sản);
  • Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu/sử dụng: Hợp đồng mua bán nhà số II-STH36.06-HĐMB-09062016 ngày 09/06/2016 và các phụ lục (nếu có) giữa ông Thái Đăng K với Công ty cổ phần B; Hóa đơn số 0003178 ngày 09/6/2016; hóa đơn số 0000020 ngày 05/09/2016; hóa đơn số 0000864 ngày 11/11/2016; hóa đơn số 0003928 ngày 09/10/2017; Bảng tính giá trị quyết toán ngày 19/9/2017; Phụ lục ép cọc ngày 07/8/2017; bảng giá trị xây dựng và yêu cầu kỹ thuật; Phụ lục hợp đồng xây thô ngày 22/9/2017; Hợp đồng hợp tác ba bên giữa Công ty cổ phần B, ông Thái Đăng K & bà Huỳnh Thị Anh T2 và Ngân hàng TMCP X.

P nhận thế chấp tài sản này theo những H1 đồng/văn bản sau: Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số công chứng 13515, quyển số 02/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/10/2021 tại Văn phòng C, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Đơn đăng ký giao dịch bảo đảm số 1428874824 ngày 15/10/2021 tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Đà Nẵng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông K và bà thư đã thanh toán được số nợ gốc là 351.603.648 đồng; Từ ngày 10/4/2023 cho đến nay, ông K và bà T2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho P, nên P đã chuyển toàn bộ số nợ vay sang nợ quá hạn.

Tạm tính đến ngày 27/9/2024, khách hàng còn nợ P tổng số tiền là 1.411.180.416 đồng (Một tỷ bốn trăm mươi một triệu một trăm tám mươi ngàn bốn trăm mười sáu đồng). Kể từ ngày phát sinh nợ quá hạn, P đã nhiều lần yêu cầu ông Thái Đăng K và bà Huỳnh Thị Anh T2 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho P nhưng đến nay Khách hàng vẫn chưa trả được nợ. Như vậy, ông K và bà T2 đã vi phạm các điều khoản cam kết về nghĩa vụ trả nợ đã quy định tại Hợp đồng tín dụng và các hợp đồng, phụ lục liên quan khác đã ký với P1 nên P1 có đủ cơ sở để khởi kiện yêu cầu đòi nợ.

Nay, P đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xem xét giải quyết các yêu cầu của P như sau:

  • Buộc ông Thái Đăng K và bà Huỳnh Thị Anh T2 thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ còn lại của Hợp đồng tín dụng số 0454/2021/KH/HĐTD-CN/PGBank ngày 15/10/2021; Hợp đồng tín dụng số 0464/2021/KH/HĐTD-CN/PGBank ngày 22/10/2021; Hợp đồng tín dụng số 0545/2021/KH/HĐTD-CN/PGBank ngày 17/12/2021 và các phụ lục Hợp đồng, các khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng TMCP X, tạm tính đến ngày 27/9/2024, khách hàng còn nợ P tổng số tiền là 1.411.180.416 đồng (Một tỷ bốn trăm mươi một triệu một trăm tám mươi ngàn bốn trăm mười sáu đồng), bao gồm: Nợ gốc là 1.198.396.352 đồng, nợ lãi trong hạn là 165.468.996 đồng, lãi chậm trả là 11.296.947 đồng, lãi trên dư nợ gốc quá hạn là 36.018.121 đồng. Tổng số nợ này chưa kể số lãi phát sinh thêm sau ngày 28/9/2024 cho đến ngày khoản vay được thanh toán toàn bộ.
  • Thời hạn thanh toán: Ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  • Lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 28/9/2024 cho đến khi Khách hàng thanh toán toàn bộ khoản nợ tại P theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và (các) Khế ước nhận nợ kèm theo. Trường hợp, Khách hàng chậm trả lãi thì phải chịu tiền lãi chậm trả trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và (các) Khế ước nhận nợ kèm theo.
  • Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Thái Đăng K và bà Huỳnh Thị Anh T2 không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số nợ nêu trên cho P thì đề nghị Tòa án tuyên cho phép P được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mãi các tài sản bảo đảm sau để thu hồi nợ:

Toàn bộ các quyền, lợi ích của bên thế chấp phát sinh từ Hợp đồng mua bán nhà số II-STH36.06-HĐMB-09062016 ngày 09/6/2016 và các Phụ lục (nếu có) giữa ông Thái Đăng K với Công ty cổ phần B thuộc dự án Khu đô thị M, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nhà ở của bên thế chấp theo Hợp đồng mua bán nhà ở có thông tin cụ thể như sau: Căn nhà số S, thuộc dự án KĐT mới Lê Hồng Phong I, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa: Ký hiệu: STH36.06; Số mặt tiền: 01 mặt tiền; Diện tích: 90m²; Sử dụng riêng: 90m²; Sử dụng chung: 0m²; Tiếp giáp đường số: 3B; Loại nhà ở: Liền kề; Thời hạn sử dụng đất: Lâu dài.

Toàn bộ các quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán nhà ở: Quyền đòi nợ, các khoản phải thu, quyền yêu cầu thanh toán, quyền được bồi thường thiệt hại, quyền thụ hưởng bảo hiểm phát sinh từ Hợp đồng mua bán nhà ở và các văn bản liên quan đến Hợp đồng mua bán nhà ở; Lợi tức, các lợi ích khác thu được từ quyền tài sản phát sinh và/hoặc liên quan đến Hợp đồng mua bán nhà ở và các văn bản liên quan đến Hợp đồng mua bán nhà ở và/hoặc liên quan đến quyền tài sản nêu tại điểm a, b khoản 2 Điều 2 Hợp đồng thế chấp, bao gồm nhưng không giới hạn bởi: Toàn bộ các tài sản hình thành/phát sinh/thu được (bao gồm cả tài sản hình thành trong tương lai), các quyền, lợi ích, lợi nhuận phát sinh từ quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền khai thác, định đoạt nhà ở (hoa lợi, lợi tức, quyền nhận tiền đền bù, tiền bồi thường, quyền nhận tiền cho thuê, các quyền khác đối với tài sản).

Trường hợp sau khi xử lý các tài sản bảo đảm nêu trên không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ, P có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xác minh điều kiện thi hành án của Khách hàng để thu hồi toàn bộ khoản nợ.

* Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Thái Đăng K và bà Huỳnh Thị Anh T2, yêu cầu các bị đơn có mặt tại Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang để cung cấp tài liệu, chứng cứ, trình bày ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, ông K và bà T2 vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần B (Sau đây gọi tắt là HQL) trình bày:

  • Ông Thái Đăng K là chủ sở hữu hợp pháp của căn nhà STH36.06 thuộc Dự án Khu đô thị M, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa do HQL làm chủ đầu tư. Căn cứ nội dung tại Phụ lục hợp đồng xây thô, để thuận tiện hơn trong thủ tục hồ sơ, HQL đã ủy quyền cho Ông Thái Đăng K thanh toán tiền xây dựng nhà trực tiếp cho D. Sau khi hoàn tất việc xây dựng nhà ở thì các bên sẽ thực hiện thủ tục bù trừ công nợ, hoàn công, quyết toán công trình. Khi đó, D sẽ xuất hóa đơn GTGT cho HQL và HQL sẽ xuất hóa đơn GTGT cho Ông Thái Đăng K.
  • HQL đã nhiều lần liên hệ với Ông Thái Đăng K cũng như D yêu cầu thực hiện thủ tục bù trừ công nợ, hoàn công, quyết toán công trình nhà ở STH36.06 nhưng các bên vẫn không phối hợp thực hiện. Vì vậy, đến thời điểm hiện tại, căn nhà STH36.06 vẫn chưa hoàn tất thủ tục hoàn công, quyết toán công trình theo quy định.
  • Ngoài ra, ngày 14/10/2021, Ông Thái Đăng K có ký Hợp đồng hợp tác ba với Ngân hàng TMCP X1 - Chi nhánh K1 và HQL để vay vốn bằng việc thế chấp Hợp đồng mua bán số II-STH36.06-HĐMB-09062016. Tại thời điểm ký hợp đồng vay Ngân hàng, Ông Thái Đăng K đã thanh toán hoàn tất tiền sử dụng đất, tiền ép cọc móng và phí thẩm tra, giám sát đối với căn nhà STH36.06. Riêng tiền xây dựng nhà thì H2 đã ủy quyền cho Ông Thái Đăng K thanh toán trực tiếp cho nhà thầu. Vì vậy, khi Ngân hàng cho Ông Thái Đăng K vay đối với căn nhà này, Ngân hàng đã thực hiện giải ngân cho Ông Thái Đăng K hoặc giải ngân trực tiếp cho nhà thầu, Ngân hàng không thực hiện việc giải ngân trực tiếp vào tài khoản của HQL.
  • Sau khi được Ngân hàng giải ngân vốn vay, Ông Thái Đăng K có trách nhiệm trả nợ vay cho Ngân hàng và Ngân hàng có quyền thu nợ của Ông Thái Đăng K mà không cần thông qua HQL cho đến khi Ông Thái Đăng K thanh toán hết nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo quy định. Tính đến thời điểm hiện tại, HQL chưa nhận được bất kỳ thông báo hoặc thông tin gì liên quan đến việc thực hiện trả nợ của Ông Thái Đăng K. Tuy nhiên, HQL sẽ phối hợp với Ngân hàng trong trường hợp xảy ra việc xử lý Tài sản bảo đảm khi có thông báo từ phía Ngân hàng.
  • Với các nội dung nêu trên, HQL xin vắng mặt tại tất cả các phiên họp, phiên hòa giải, phiên xét xử liên quan đến Vụ án dân sự số 133/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng và Ông Thái Đăng K. HQL cam đoan tất cả sự việc HQL đã giải trình cũng như những tài liệu HQL cung cấp cho Quý T3 đều đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với các thông tin đã cung cấp. Đồng thời, sẵn sàng phối hợp cung cấp thêm khi cần thiết.

* Tại phiên tòa:

  1. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, kèm theo là bảng nợ gốc + lãi, tính đến ngày 27/9/2024.
  2. Đại diện hợp pháp của người liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Các bị đơn vắng mặt không có lý do chính đáng.
  3. Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:
  • Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần T4 và Phát triển.
  • Án phí và chi phí tố tụng: Bị đơn ông Thái Đăng K và bà Huỳnh Thị Anh T2 phải chịu án phí, chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Theo các tài liệu do nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần T4 (Sau đây viết tắt là P) cung cấp gồm: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, Trích lục đăng ký kết hôn của ông Thái Đăng K và bà Huỳnh Thị Anh T2; Các Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ, Hợp đồng mua bán nhà số II-STH36.06-HĐMB-09062016 ngày 09/06/2016 và các Phụ lục kèm theo; Biên bản xác minh đề ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang tại Công an phường P, thành phố N... đều thể hiện ông Thái Đăng K và bà Huỳnh Thị Anh T2 có địa chỉ thường trú tại S đường C Khu đô thị L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định nguyên đơn P đã cung cấp đầy đủ và chính xác địa chỉ của các bị đơn. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ và chính xác địa chỉ của các bị đơn; Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại nơi đăng ký hộ khẩu và nơi cư trú của ông K, bà T2 theo quy định tại khoản 5 Điều 177, Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[1.2] Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn P và đại diện hợp pháp của người liên quan Công ty Cổ phần B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Thái Đăng K và bà Huỳnh Thị Anh T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trong vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Căn cứ vào lời khai của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Trong các ngày 15/10/2021, 22/10/2021 và ngày 17/12/2021, giữa P - Chi nhánh K1 với ông Thái Đăng K và bà Huỳnh Thị Anh T2 có ký các Hợp đồng tín dụng số 0454/2021/KH/HĐTD-CN/PGBank, số 0464/2021/KH/HĐTD-CN/PGBank và số 0545/2021/KH/HĐTD-CN/PGBank; Lãi suất trong hạn: Theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận cụ thể tại Khế ước nhận nợ và được điều chỉnh như sau: Lãi suất cho vay được điều chỉnh vào ngày đầu tiên hàng quý và được tính bằng: lãi suất huy động tiết kiệm VND kỳ hạn 12 tháng (cuối kỳ) cao nhất cộng (+) biên độ 4,1%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn trên số dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả; Lãi suất chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; Thời hạn vay: 60 đến 120 tháng (tương ứng với từng Hợp đồng tín dụng cụ thể nêu trên); Mục đích vay: Sửa chữa nhà tại lô số STH36.06, thuộc dự án khu đô thị M, thành phố N, Khánh Hòa.

Thực hiện 03 hợp đồng tín dụng, P - Chi nhánh K1 đã giải ngân tổng số tiền vay: 1.550.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm năm mươi triệu đồng) cho vợ chồng ông K, bà T2 thông qua các Khế ước nhận nợ: số 01/0454/2021/KH/KUNN-CN/PGBank ngày 15/10/2021, số 01/0464/2021/KH/KUNN-CN/PGBank ngày 22/10/2021 và số 01/0545/2021/KH/KUNN-CN/PGBank ngày 17/12/2021. Quá trình sử dụng vốn vay, ông K, bà T2 đã thanh toán cho P - Chi nhánh K1 số tiền nợ gốc 351.603.648 đồng; Tuy nhiên từ ngày 10/4/2023, ông K và bà T2 liên tiếp vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, nên P - Chi nhánh K1 đã chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn.

Nay, P yêu cầu ông Thái Đăng K và bà Huỳnh Thị Anh T2 phải thanh toán một lần số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 27/9/2024 là: 1.411.180.416 đồng (Một tỷ, bốn trăm mười một triệu, một trăm tám mươi ngàn, bốn trăm mười sáu đồng), bao gồm: Nợ gốc là 1.198.396.352 đồng, nợ lãi trong hạn là 165.468.996 đồng, nợ lãi chậm trả là 11.296.947 đồng, nợ lãi trên dư nợ gốc quá hạn là 36.018.121 đồng. Và tiền lãi, tiền phí theo quy định tại các Hợp đồng tín dụng đã ký kết, kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi ông K, bà T2 trả hết nợ.

[2.2] Tòa xét: Việc giao kết hợp đồng tín dụng, thỏa thuận mức lãi suất giữa P với ông Thái Đăng K và bà Huỳnh Thị Anh T2 là hoàn toàn tự nguyện, mục đích, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội. Do vậy, các Hợp đồng tín dụng số 0454/2021/KH/HĐTD-CN/PGBank ngày 15/10/2021, số 0464/202/KH/HĐTD-CN/PGBank ngày 22/10/2021 và số 0545/2021/KH/HĐTD-CN/PGBank ngày 17/12/2021, có đủ điều kiện để phát sinh hiệu lực, các chủ thể tham gia giao dịch phải có nghĩa vụ tôn trọng, thực hiện các thỏa thuận được ghi nhận trong hợp đồng.

Từ ngày 10/4/2023, ông K và bà T2 không thanh toán các khoản nợ gốc, lãi theo đúng thời hạn đã thỏa thuận, nên P đã chuyển toàn bộ khoản nợ vay sang nợ quá hạn là đúng quy định tại Điều 3 của các Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa P và ông K, bà T2. Việc ông K, bà T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng. Do vậy, nguyên đơn P khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Thái Đăng K, bà Huỳnh Thị Anh T2 phải thanh toán số nợ tính đến ngày 27/9/2024: Nợ gốc là 1.198.396.352 đồng, nợ lãi trong hạn là 165.468.996 đồng, nợ lãi chậm trả là 11.296.947 đồng, nợ lãi trên dư nợ gốc quá hạn là 36.018.121 đồng; Tổng cộng: 1.411.180.416 đồng (Một tỷ, bốn trăm mười một triệu, một trăm tám mươi ngàn, bốn trăm mười sáu đồng), là có căn cứ, phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 3 của các Hợp đồng tín dụng đã ký, đồng thời phù hợp qui định của Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, nên có cơ sở để chấp nhận.

[2.3] Đối với tài sản thế chấp mà các bị đơn ông Thái Đăng K, bà Huỳnh Thị Anh T2 đã thế chấp cho P, để bảo lãnh cho các khoản tiền vay nói trên của ông K và bà T2.

Tòa xét: Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số công chứng 13515, quyển số 02/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/10/2021 tại Văn phòng C, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Đơn đăng ký giao dịch bảo đảm số 1428874824 ngày 15/10/2021 tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Đà Nẵng; Để được đảm bảo cho khoản nợ phải trả, bao gồm: Nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí và các chi phí phát sinh khác (nếu có) của các hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm được ký kết giữa P - Chi nhánh K1 với ông Thái Đăng K và bà Huỳnh Thị Anh T2. Do vậy, khi ông K và bà T2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi của các Hợp đồng tín dụng số 0454/2021/KH/HĐTD-CN/PGBank ngày 15/10/2021, Hợp đồng tín dụng số 0464/202/KH/HĐTD-CN/PGBank ngày 22/10/2021 và Hợp đồng tín dụng số 0545/2021/KH/HĐTD-CN/PGBank ngày 17/12/2021, là xâm phạm quyền lợi của nguyên đơn. Vì vậy, tài sản mà ông Thái Đăng K và bà Huỳnh Thị Anh T2 đã thế chấp cho Ngân hàng P - Chi nhánh K1 để bảo đảm cho khoản nợ vay của ông K và bà T2 sẽ được xử lý phát mãi trong quá trình thi hành án, nếu ông K và bà T2 không thi hành khoản nợ trên.

[3] Án phí và chi phí tố tụng: Căn cứ khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[3.1] Án phí:

  • Bị đơn ông Thái Đăng K, bà Huỳnh Thị Anh T2 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền còn nợ 1.411.180.416 đồng; Cụ thể: Ông K, bà T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 54.335.412 đồng (Năm mươi tư triệu ba trăm ba mươi lăm ngàn bốn trăm mười hai đồng).
  • Hoàn trả lại cho P số tiền tạm ứng án phí 23.976.000 đồng (Hai ba triệu chín trăm bảy mươi sáu ngàn đồng) mà Ngân hàng đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002061 ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.

[3.2] Chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là P được chấp nhận nên bị đơn là ông Thái Đăng K, bà Huỳnh Thị Anh T2 phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng, với số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). P đã tạm ứng chi phí này, nên ông K và bà T2 có nghĩa vụ thanh toán lại cho P số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) cho Ngân hàng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Điều 463, 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Khoản 3 Điều 144; Điều 147; khoản 1 Điều 149; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần T4;

1.1. Ông Thái Đăng K, bà Huỳnh Thị Anh T2 có nghĩa vụ thanh toán một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T4 và Phát triển số tiền còn nợ, tính đến ngày 27/9/2024: 1.411.180.416 đồng (Một tỷ, bốn trăm mười một triệu, một trăm tám mươi ngàn, bốn trăm mười sáu đồng); Trong đó: Nợ gốc là 1.198.396.352 đồng; Nợ lãi trong hạn là 165.468.996 đồng; Nợ lãi chậm trả là 11.296.947 đồng; Nợ lãi trên dư nợ gốc quá hạn là 36.018.121 đồng;

Và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc còn lại, tính từ ngày 28/9/2024 cho đến khi ông Thái Đăng K, bà Huỳnh Thị Anh T2 thanh toán hết nợ gốc, theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 0454/2021/KH/HĐTD-CN/PGBank ngày 15/10/2021; Hợp đồng tín dụng số 0464/2021/KH/HĐTD-CN/PGBank ngày 22/10/2021; Hợp đồng tín dụng số 0545/2021/KH/HĐTD-CN/PGBank ngày 17/12/2021 và các phụ lục Hợp đồng, các khế ước nhận nợ đã ký kết.

1.2. Trường hợp ông Thái Đăng K, bà Huỳnh Thị Anh T2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T4, thì Ngân hàng Thương mại cổ phần T4 và Phát triển có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mãi các tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số công chứng 13515, quyển số 02/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/10/2021 tại Văn phòng C, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, để thu hồi nợ.

2. Án phí và chi phí tố tụng:

2.1. Án phí:

  • Bị đơn ông Thái Đăng K, bà Huỳnh Thị Anh T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 54.335.412 đồng (Năm mươi tư triệu ba trăm ba mươi lăm ngàn bốn trăm mười hai đồng).
  • Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T4 và Phát triển số tiền tạm ứng án phí 23.976.000 đồng (Hai ba triệu chín trăm bảy mươi sáu ngàn đồng), mà Ngân hàng đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002061 ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.

2.2. Chi phí tố tụng: Ông Thái Đăng K, bà Huỳnh Thị Anh T2 có nghĩa vụ thanh toán số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T4.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hay bản án được niêm yết.

4. Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • Các đương sự;
  • TAND tỉnh Khánh Hòa
  • VKSND Tp. Nha Trang
  • Chi cục THADS Tp. Nha Trang
  • Lưu: + Hồ sơ;
  • + Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lương Ngọc Yến Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 139/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: PGBank - Khang, Thư
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger