Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 139/2024/HS-ST

Ngày: 25-9-2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Trung Chính;
  2. Ông Vũ Ngọc Tiến.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hoan – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 118/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Thanh P; Sinh ngày: 24/4/1979 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số C L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: Số C L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Nguyễn Tri P1 (chết) và bà: Trần Thị Lệ H (sinh năm 1948); Tiền án, tiền sự: Không có; Hoàn cảnh gia đình: 01 con sinh năm 2017.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/3/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lâm Thị Thu P2, sinh năm 1972 (vắng mặt).

Hộ khẩu thường trú: Số A L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 27/01/2024, bà Lâm Thị Thu P2 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tố cáo Trần Thanh P cho vay lãi nặng, với lãi suất từ 10% đến 15%/tháng (tương đương 120% đến 180%/năm), việc thanh toán tiền vay, lãi được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản và tiền mặt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q lập biên bản tiếp nhận nguồn tin tội phạm.

Kết quả điều tra xác định được như sau: Từ ngày 12/02/2023 đến ngày 25/8/2023, Trần Thanh P sử dụng tài khoản ngân hàng số [...] và số 970403100571857 mở tại ngân hàng TMCP S (S1), do Trần Thanh P là chủ tài khoản để chuyển tiền vào tài khoản số 9757990 mở tại Ngân hàng TMCP Đ (B) do bà Lâm Thị Thu P2 là chủ tài khoản, cho bà Lâm Thị Thu P2 vay tổng cộng 06 lần, với lãi suất từ 10%/tháng đến 15%/tháng (tương đương 120% đến 180%/năm), số tiền mỗi lần cho vay thấp nhất là 30.000.000 đồng/lần và cao nhất là 100.000.000 đồng/lần, tổng số tiền đã cho vay là 500.000.000 đồng.

Bà Lâm Thị Thu P2 đã trả bằng tiền mặt và chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của P để trả tiền nợ gốc, tiền lãi vay với tổng số tiền là 365.000.000 đồng, trong đó: tiền nợ gốc 250.000.000 đồng, tiền lãi là 115.000.000 đồng. Số tiền lãi trên các khoản vay bà P2 trả theo quy định pháp luật là 18.739.728 đồng; Số tiền P đã thu lợi bất chính được từ việc 06 lần cho vay lãi nặng là 96.260.272 đồng, trong đó có 02 lần số tiền thu lợi bất chính nhận được trên 30.000.0000 đồng/lần.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã khởi tố Trần Thanh P về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, bị cáo P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Số tiền nợ gốc bà P2 chưa trả cho P là 250.000.000 đồng.

Tài sản vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax, số Imei 352680941284591 - là tài sản của P sử dụng vào việc phạm tội.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã có Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Lâm Thị Thu P2 yêu cầu được nhận lại số tiền lãi vượt quá theo quy định pháp luật.

Tại Cáo trạng số 113/CT-VKSQ10 ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

Bị cáo Trần Thanh P về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

  • Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
  • Tại phiên toà bị cáo thừa nhận có cho bà Lâm Thị Thu P2 vay tổng cộng 500.000.000 đồng, bà P2 đã trả được 365.000.000 đồng (trong đó nợ gốc là 250.000.000 đồng, tiền lãi cho phép theo quy định là 18.739.728 đồng, tiền lãi thu vượt quá quy định (tiền thu lợi bất chính) là 96.260.270 đồng).

Về dân sự: Bị cáo Trần Thanh P không yêu cầu bà Lâm Thị Thu P2 trả số tiền gốc đã vay còn lại là 250.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội, và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải), tình tiết tăng nặng (phạm tội 02 lần trở lên) của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Thanh P: phạt tiền từ 130.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng, tịch thu tiền gốc và tiền lãi cho phép theo quy định để sung quỹ nhà nước, trả lại cho bà Lâm Thị Thu P2 số tiền lãi vượt quá quy định là 96.260.270 đồng và đề nghị xử lý vật chứng.

  • Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
  • Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 10 Thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Trần Thanh P đã có hành vi cho vay với lãi suất gấp 06 đến 09 lần của mức lãi suất cao nhất quy định của Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính số tiền 96.260.270 đồng. Do vậy, bị cáo Trần Thanh P bị truy tố và xét xử về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến trật tự quản lý tín dụng của nhà nước và lợi ích vật chất của người đi vay mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm bằng luật hình.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên thuộc trường hợp được quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền cũng đủ răn đe, giáo dục.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.

[4] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Thanh P không yêu cầu bà Lâm Thị Thu P2 trả số tiền gốc đã vay còn lại là 250.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, sung nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax, số Imei 352680941284591 là tài sản của bị cáo P sử dụng vào việc phạm tội.

Đối với số tiền 500.000.000 đồng mà bị cáo cho bà Lâm Thị Thu P2 vay mượn. Bà P2 đã trả cho bị cáo số tiền 365.000.000 đồng, bà P2 hiện còn nợ bị cáo số tiền 250.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền bị cáo sử dụng là phương tiện phạm tội. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ Luật Hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lâm Thị Thu P2 phải có trách nhiệm giao nộp lại số tiền 250.000.000 đồng.

Đối với số tiền lãi trong hạn cho phép của Bộ luật dân sự là 18.739.728 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền do phạm tội mà có nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ Luật Hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Bị cáo Trần Thanh P phải có trách nhiệm giao nộp lại số tiền 18.739.728 đồng.

Đối với số tiền 96.260.270 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo thực tế đã thu của bà Lâm Thị Thu P2. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ Luật Hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì Hội đồng xét xử quyết định buộc bị cáo Trần Thanh P phải trả lại cho bà Lâm Thị Thu P2 số tiền 96.260.270 đồng.

[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; Điều 35; Điều 50; điểm s khoản 1, Điều 51, điểm g, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Xử phạt bị cáo Trần Thanh P về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Phạt tiền 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu) đồng.
  • Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ Luật Hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự;
  • Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Tịch thu, sung nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax, số Imei 352680941284591.
  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 268.739.728 (hai trăm sáu mươi tám triệu bảy trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm hai mươi tám) đồng, trong đó tiền vốn bị cáo P cho bà Ngọc A vay là 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đồng và tiền lãi trong hạn cho phép của Bộ luật Dân sự là 18.739.728 (mười tám triệu bảy trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm hai mươi tám) đồng. Buộc bị cáo P có trách nhiệm giao nộp lại.
  • Tịch thu sung công nhà nước số tiền 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đồng. Buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lâm Thị Thu P3 trách nhiệm giao nộp lại.
  • Buộc bị cáo Trần Thanh P có trách nhiệm trả lại cho bà Lâm Thị Thu P2 số tiền 96.260.270 (chín mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi nghìn hai trăm bảy mươi) đồng.
  • Buộc bị cáo Trần Thanh P chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM; (1)
  • - VKSND Quận 10; (2)
  • - Công an Quận 10; (1)
  • - Chi cục THADS Quận 10; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (3)
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (6)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Hiếu Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 139/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh P phạm tôi cho vay nặng lãi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger