Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 139/2024/HS-ST

Ngày: 26-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Yến Nhi và ông Phạm Công Gia

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 137/2024/HS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Đinh Minh Nhân Á – sinh năm 1996, tại Lâm Đồng

Nơi cư trú: Tổ A, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Minh D – sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị T (đã chết); Có vợ là Trần Thị Hồng Y – sinh năm 1995, có 01 (Một) con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 20/6/2024 đến ngày 27/6/2024, bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/6/2024 đến nay, hiện đang tại ngoại. (Có mặt)

- Bị hại: Ông Huỳnh Vũ Đ – sinh năm 2005 (Đã chết)

Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Vũ Thị T1 – sinh năm 1986

Địa chỉ: Số B, thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: (Vắng mặt)

1/ Ông Huỳnh Đức V – sinh năm 1985

Địa chỉ: Tổ A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

2/ Anh Huỳnh Việt H – sinh năm 2001

Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Người đại diện theo uỷ quyền bà Vũ Thị T1 và anh Huỳnh Việt H: Ông Huỳnh Việt H1 – sinh năm 1995 (Theo văn bản uỷ quyền ngày 24, 25/6/2024) (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Người làm chứng: Bà Phạm Thị Bích H2 (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Minh Nhân Á có giấy phép lái xe hạng B2 do Sở Giao thông vận tải tỉnh L cấp ngày 13/4/2021, có giá trị đến ngày 13/4/2031.

Buổi tối ngày 19/6/2024, Đinh Minh Nhân Á điều khiển xe ô tô biển số 49A-268.53 lưu thông trên Quốc lộ B theo hướng Lâm Đồng - D. Lúc 00 giờ 30 phút ngày 20/6/2024, khi đến đoạn Km 63+550m, đường Q thuộc ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì Á điều khiển xe chạy chậm, bật xi nhan trái để chuẩn bị chuyển hướng qua đường. Do chuyển hướng không đảm bảo an toàn nên khi đi qua vạch sơn giữa đường thì xe ô tô biển số 49A-268.53 do Á điều khiển đụng vào xe mô tô biển số 49E1-799.68 do anh Huỳnh Vũ Đ điều khiển lưu thông theo chiều ngược lại, gây ra vụ tai nạn giao thông.

Hậu quả: Anh Huỳnh Vũ Đ chết tại hiện trường. Tại Kết luận giám định tử thi số 179/KLGĐTT-TTPYĐN ngày 01/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận nguyên nhân chết của anh Huỳnh Vũ Đ do “Chấn thương sọ não gây vỡ sọ phức tạp vùng trán, thái dương, chẩm phải có nhiều mảnh rời, rách màng cứng, dập não, thoát tổ chức não ra ngoài qua vết nứt sọ. Kết luận khác: Nồng độ cồn trong máu: Nồng độ Ethanol trong máu toàn phần 0,07/100ml (Theo quyết định số 320/QĐ-BYT ngày 23/01/2014). Độc chất: Có sự hiện diện của C (chất kích thích thần kinh trung ương yếu) trong mẫu máu”.

Hiện trường giao thông đường bộ thể hiện là đường hai chiều, có vạch kẻ đường phân chia hai làn đường, mỗi chiều có hai làn xe gồm làn đường dành cho xe thô sơ rộng 02m, một làn đường dành cho xe cơ giới rộng 3,5m. Sau tai nạn xảy ra, xe mô tô biển số 49E1-799.68 nằm ngã sang bên trái, đầu xe hướng về mép đường chuẩn, đuôi xe hướng về mép đường bên trái, điểm tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn 0,5m, điểm tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 1,75m. Xe ô tô biển số 49A-268.53 dừng trên mép đường chuẩn, đầu xe hướng về mép đường chuẩn, đuôi xe hướng về mép đường bên trái, điểm tâm trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn 6,9m, điểm tâm trục bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn 24,1m, khoảng cách từ điểm tâm trục bánh sau bên trái đến điểm tâm trục bánh trước xe mô tô biển số 49E1-799.68 là 4,9m. (Tại hiện trường lấy gốc trụ điện km 63+550m làm điểm mốc chuẩn, lấy mép đường bên phải theo chiều D - Lâm Đồng làm mép đường chuẩn).

Qua dấu vết để lại trên mặt đường nhựa xác định vị trí xảy ra tai nạn thuộc phần đường bên trái so với chiều lưu thông của Đinh Minh Nhân Á. Nguyên nhân tai nạn giao thông đường bộ do Đinh Minh Nhân Á điều khiển xe ô tô biển số 49A-268.53 chuyển hướng không đảm bảo an toàn.

Quá trình điều tra, Á đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Theo Cáo trạng số 137/CT-VKS-TP ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Đinh Minh Nhân Á về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Minh Nhân Á mức án 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường thiệt hại và bị hại đã bãi nại về dân sự nên không đề nghị xem xét. Về xử lý vật chứng đã trao trả các xe ô tô, mô tô cho chủ sở hữu nên không đề nghị xem xét. Về án phí, bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, đồng ý với tội danh và mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị là tương xứng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Vào lúc 00 giờ 30 phút ngày 20/6/2024 tại Km 63+550m Quốc lộ B thuộc ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Đinh Minh Nhân Á điều khiển xe ô tô biển số 49A-268.53 chuyển hướng không đảm bảo an toàn nên gây tai nạn giao thông đường bộ làm anh Huỳnh Vũ Đ tử vong.

Hành vi của Đinh Minh Nhân Á đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ: “Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.”

Hành vi của Đinh Minh Nhân Á đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Ngoài ra còn xem xét bị cáo đầu thú, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, hiện đang nuôi con nhỏ; bị hại có một phần lỗi không chú ý quan sát và chạy xe không đúng tốc độ quy định; người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ đối với bị cáo và bãi nại về dân sự. Các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về căn cứ quyết định hình phạt:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng, an toàn giao thông, không những gây ra thiệt hại về tài sản, tính mạng của người khác mà còn gây mất an toàn tham gia giao thông, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ được hành vi của mình. Bị cáo không tuân thủ các quy định về an toàn giao thông, chuyển hướng không đảm bảo an toàn dẫn đến gây ra tai nạn giao thông làm bị hại tử vong, với lỗi vô ý.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có khả năng tự cải tạo. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân sống có ích cho xã hội, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

[6] Về biện pháp tư pháp:

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại số tiền 100.000.000₫ (Một trăm triệu đồng) và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì khác, đã có đơn bãi nại về dân sự cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Đã trao trả 01 giấy phép lái xe cho bị cáo; các xe ô tô, mô tô đã trao trả cho chủ sở hữu, người quản lý sử dụng hợp pháp là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
  • - Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư liên tịch 01/2023/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 18/01/2023;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
  1. Tuyên bố bị cáo Đinh Minh Nhân Á phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Xử phạt bị cáo Đinh Minh Nhân Á 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/9/2024).

    Giao bị cáo Đinh Minh Nhân Á cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bà T1, anh H có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Anh V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Tân Phú;
  • - Công an huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tân Phú;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tùng

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 139/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Đinh Minh Nhân A 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/9/2024).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger