TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 139/2024/DS-ST.
Ngày: 30-8-2024.
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu
tháo dỡ công trình, kiến trúc và yêu cầu khôi
phục hiện trạng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Thanh Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lục Kim Thanh.
Bà Nguyễn Thị Thắm.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 09/2024/TLST-DS ngày 03/01/2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu tháo dỡ công trình, kiến trúc và yêu cầu khôi phục hiện trạng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 107/2024/QĐST-DS ngày 22/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Hữu Đ, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ H, khu phố K, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Vương Ngọc X, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ H, khu phố K, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1985; trú tại: Khu phố K, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt theo đơn xin giải quyết vắng mặt.
2. Bà Bùi Thị H, sinh năm 1984; trú tại: Khu phố K, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt theo đơn xin giải quyết vắng mặt;
3. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1953; trú tại: Khu phố K, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt theo đơn xin giải quyết vắng mặt;
2
4. Bà Trần Thị Linh Đ1, sinh năm 1983; trú tại: Khu phố K, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Trần Hữu Đ trình bày:
Vào tháng 10/2017 ông Đ có mua một phần thửa đất số 2234, tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương của ông Nguyễn Thanh D(cháu của bà Vương Ngọc X). Phần đất ông Đ mua là 42,2 m ngang cạnh dọc theo mương nước theo như bản vẽ ông D cung cấp mà ông Đ đã đưa kèm đơn. Ông Đ mua đất của ông D là mua theo mét ngang để thẳng đất. Diện tích mét vuông ông D bán là 4.067,1 m² nhưng thực tế là hơn. Giá 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Thửa đất lúc này vẫn do ông Đặng Văn T1 đứng tên nhưng ông D được toàn quyền quyết định và ông Đ mua bán trực tiếp với ông D, chỉ gặp ông T1 lúc ký hợp đồng công chứng chuyển nhượng quyền sử đất. Lúc làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông D có nhờ ông Đ đứng tên cả thửa đất 2234 mặc dù ông Đ chỉ mua có một phần. Ông D có nói với ông Đ là khi nào ông D bán được cho người khác phần còn lại của thửa đất số 2234 sẽ nhờ ông Đ ký tên tách sổ, sang nhượng cho người ta. Ông Đ cũng đồng ý với ông D việc này. Ông Đ đã trả hết tiền mua đất cho ông D. Sau khi mua đất thì ông Đ đã rào toàn bộ phần đất của mình lại, ông Đ đào ao cá, đắp nền nhà, cất nhà tạm để ở. Phần đất còn lại của thửa đất đã tách biệt hoàn toàn với phần đất của ông Đ và vẫn còn giữ hiện trạng cũ là đất mương liếp thấp.
Đầu năm 2019, ông D thông báo với ông Đ đã bán phần còn lại thửa đất 2234 cho bà Vương Ngọc X. Sau đó, bà X có thuê người sang lấp mặt bằng và cất nhà ở trên phần đất còn lại của thửa đất 2234. Cũng trong năm 2019, sau khi bà X cất nhà ở thì ông Đ cũng xây chuồng trại trên phần đất của mình cách hàng rào giáp ranh đất của bà X khoảng 0,5m. Trong khoảng thời gian này hai bên chưa phát sinh tranh chấp. Ông Đ không đồng ý trình bày của bà X về việc bà X cho rằng ông Đ bán đất cho bà X. Ông Đ chỉ đứng tên giùm phần đất này cho ông D. Ông Dbán cho bà X thì ông Đ đứng ra ký giấy tờ sang nhượng quyền sử dụng đất giùm cho ông D. Ông Đ hoàn toàn không liên quan việc mua bán giữa bà X và ông Duy
Năm 2020, ông Đ đi chuộc lại sổ đỏ trong ngân hàng để làm thủ tục tách sổ cho bà X. Tuy nhiên, khi làm thủ tục đo tách sổ cho bà X thì nhân viên đo đạc thông báo diện tích đất của bà Vương Ngọc Xkhông đủ 1.000 m² nên không đủ điều kiện tách thửa theo quy định pháp luật. Lúc này, ông D có xin ông Đ lấn ranh qua phần đuôi đất để cho bà X đủ diện tích đất đủ điều kiện tách thửa. Ông Đ đồng ý và có chỉ cho nhân viên đo đạc là chỉ lấn phần đuôi ngay bờ ao cá nhà ông Đ. Thời điểm đo đạc làm thủ tục tách sổ cho bà X thì ông Đ có chứng kiến, ông Đ có đồng ý cho đất để bà X đủ đất tách thửa nhưng chỉ cho phần đuôi đất, không phải cho phần đất mặt tiền như bà X trình bày. Ông Võ Hùng P là người bên ông D và bà X nhờ ông Đ ký ủy quyền cho ông Võ Hùng P đi làm thủ tục tách sổ cho bà X.
Đến tháng 5/2023, bà X lại khiếu nại ông Đ cho rằng ông Đ lấn ranh đất của bà X. Lúc này ông Đ mới phát hiện phần đất của bà X được cấp sổ lại lấy mất phần đầu đất ngay chuồng heo thay vì đuôi đất ngay bờ ao. Sau đó, bà X không có khiếu nại hay
3
khởi kiện ông Đ nữa nên ông Đ làm đơn khiếu nại yêu cầu bà X trả lại phần đất lấn chiếm. Do bà X không đồng ý nên ông Đ khởi kiện bà X tại Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) B.
Theo đơn khởi kiện ông Đ yêu cầu Tòa án buộc bà Vương Ngọc X trả lại cho ông Đ phần đất có diện tích 60m², thuộc một phần thửa đất số 2410, tờ bản đồ số 22, tại xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Vương Ngọc Xngày 04/11/2020. Ông Đđồng ý giao cho bà Vương Ngọc Xphần đất có diện tích 60m², thuộc một phần thửa đất số 2409, tờ bản đồ số 22, tại xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương, được cập nhật biến động cho ông Đ ngày 09/11/2020.
Theo Đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 01/02/2024, ông Đ chỉ yêu cầu bà X trả lại 60m² đất đã lấn của ông Đ, thuộc một phần thửa đất số 2410, tờ bản đồ số 22, tại xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Vương Ngọc X ngày 04/11/2020.
Theo Đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 04/7/2024 ông Đ yêu cầu bà X trả lại 99,7 m² đất đã lấn của ông Đ, thuộc một phần thửa đất số 2410, tờ bản đồ số 22, tại xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Vương Ngọc X ngày 04/11/2020.
Ông Đ không đồng ý với yêu cầu phản tố của bà X. Ông Đ đồng ý với kết quả đã xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá, không yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá lại. Ngoài ra, ông Đ không có ý kiến nào khác.
* Bị đơn bà Vương Ngọc X trình bày:
Bà X không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hữu Đ. Phần đất thuộc thửa số 2410, tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương là bà Xmua lại từ ông Trần Hữu Đ. Thời gian mua, số tiền mua thì bà X không nhớ được nhưng bà X đã thanh toán đủ tiền theo hình thức giao tiền mặt cho ông Đ. Thời điểm đó do sổ đỏ ông Đ đang cầm cố trong ngân hàng nên bà X chưa làm sổ riêng được. Sau đó, do thấy lâu quá ông Đ chưa chuộc sổ ra để tách sổ cho bà X nên bà X có cho ông Đ mượn tiền để chuộc sổ đỏ ra. Sau khi ông Đ lấy sổ ra thì ban đầu vẫn chưa tách sổ cho bà X mà mãi sau đó mới làm thủ tục tách sổ. Giấy tờ liên quan mua bán bà X cũng không có giữ do bà Xuân N1 đã ra sổ đỏ nên không cần giữ. Theo giấy tờ mua bán thì bà X mua của ông Đ diện tích 1.057 m². Thời điểm bà X mua thì ông Đ đã rào hàng rào đất của ông Đ rồi. Sau khi mua thì ông Đ có làm ủy quyền cho Võ Hùng P là con trai ruột của bà X đi làm thủ tục tách thửa, sang tên sổ đỏ cho bà X. Con bà X mới ra trường, cũng không biết thủ tục nhưng bà X có nói con trai lên UBND xã (nay là phường) An Điền nhờ được hướng dẫn thủ tục tách sổ. Thời điểm làm thủ tục ra sổ đỏ cho bà X thì không có tiến hành đo đạc lại mà chỉ căn cứ giấy tờ mua bán giữa bà X và ông Đ đất có diện tích 1.057 m². Thời điểm làm thủ tục tách sổ thì ông Đ có đồng ý. Sau đó bà X mới rào lại đất nên trước khi rào có nhờ cán bộ đo đạc đo đạc, cắm mốc lại để rào cho chính xác. Khi họ đo mới phát
4
hiện đất bà X bị thiếu và phần thiếu nằm trong phần đất ông Đ đã rào, bà X không biết chính xác đất của bà X bị thiếu bao nhiêu. Lúc này bà X có yêu cầu ông Đ dỡ hàng rào để trả lại đất cho bà X nhưng không được nên có khiếu nại lên ấp, ấp có tổ chức hòa giải nhưng không thành. Do bà X bị bệnh nên sau khi hòa giải không thành thì không có khởi kiện ông Đ. Sau đó, ông Đ lại khiếu nại bà X lên xã, xã tổ chức hòa giải không thành. Ông Đ kiện bà X lên Tòa án. Thời điểm bà X mua đất thì mảnh đất không có ao cá, hàng rào. Ông Võ Hùng P là con trai bà X, đã đi N từ năm 2023, hiện không có mặt ở Việt Nam, không thể tham gia tố tụng trong vụ án này như ông Đ yêu cầu. Bà X hoàn toàn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Bà X có yêu cầu phản tố theo đơn yêu cầu phản tố ngày 01/7/2024 như sau:
- Yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Hữu Đtrả lại cho bà Vương Ngọc Xphần đất có diện tích theo kết quả đo đạc thực tế là 99,7m², thuộc một phần thửa đất số 2410, tờ bản đồ số 22, tại xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương.
- Buộc ông Trần Hữu Đ thực hiện việc tháo dỡ phần công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm, khôi phục lại hiện trạng thửa đất ban đầu cho bà X.
Bà X đồng ý với kết quả đã xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá, không yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá lại. Ngoài ra bà X không có ý kiến gì.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
1. Ông Nguyễn Thanh D trình bày:
Ông D xác định thửa số 2234 (sau này tách thành thửa số 2409 và 2410), tờ bản đồ số 22 có nguồn gốc của ông D. Ông D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất này theo hình thức hợp đồng ủy quyền. Sau đó, vào khoảng năm 2017 ông D bán một phần thửa đất này (thửa số 2409) cho ông Đ theo hình thức giấy tay, có ghi diện tích cụ thể và ghi mét ngang nhưng ông D không nhớ rõ cụ thể chỉ nhớ khoảng trên 4.000 m², nhưng hai bên có thỏa thuận là chừa phần còn lại của thửa đất có diện tích hơn 1.000 m² để đủ điều kiện tách thửa. Hai bên thỏa thuận là ông D làm thủ tục cho ông Đ đứng tên toàn bộ thửa đất, sau này khi ông D bán được cho người khác thì ông Đ đứng tên làm thủ tục tách sổ cho người mua giùm ông D. Sau đó khoảng năm 2019, ông Dbán phần còn lại của thửa đất (thửa số 2410) cho bà Vương Ngọc X. Hai bên thống nhất diện tích ông D bán cho bà X là 1.057 m². Sau đó ông Đ đứng tên làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tách thửa cho bà X. Thời điểm đo đạc làm thủ tục tách sổ, tách thửa thì ông Đ cũng chứng kiến. Sau khi hai bên nhận sổ thì ông D hoàn toàn không liên quan gì đến việc quản lý, sử dụng đất của hai bên. Ông D đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho hai bên, ông D không còn liên quan quyền lợi, nghĩa vụ trong vụ án này. Ngoài ra ông D không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này.
2. Bà Trần Thị Linh Đ1 trình bày:
Bà Trần Thị Linh Đ1 là chị ruột của ông Trần Hữu Đ, hiện đang sinh sống với gia đình ông Trần Hữu Đ tại thửa đất số 2409, tờ bản đồ số 22, tại phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
5
Bà Linh Đ1 cho biết bà là người ông Nguyễn Thanh D liên hệ trực tiếp để bán đất. Thời điểm đó ông D muốn bán cả thửa đất số 2234 nhưng do giá cả quá cao nên bà Linh Đ1 mới thương lượng với gia đình và thỏa thuận với ông D là chỉ mua 01 phần thửa đất số 2234. Ông D đồng ý. Hai bên thỏa thuận là ông D bán phần đất theo mét ngang là 42,2 mét ngang, chiều dài hết đất là khoảng 100m. Giá cả là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Sau khi bà Linh Đ1 thương lượng, thống nhất về diện tích đất và giá đất thì ông D liên hệ trực tiếp với em trai bà Linh Đ1 là ông Trần Hữu Đđể làm thủ tục mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau đó, thủ tục cụ thể như thế nào thì bà Linh Đ1 không nắm được nhưng bà Linh Đ1 biết được là mặc dù ông D chỉ bán một phần đất nhưng em trai bà Linh Đ1 là ông Trần Hữu Đcó đứng tên giùm phần còn lại của thửa đất. Sau này ông D bán phần còn lại cho bà X thì ông Đ đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giùm. Gia đình bà Linh Đ1 không có bán đất cho bà X cũng không có qua lại gì với bà X. Bà Linh Đ1 thống nhất yêu cầu khởi kiện của ông Đ1, không đồng ý yêu cầu phản tố của bà X. Ngoài ra, bà Linh Đ1 không có ý kiến gì khác hay yêu cầu gì trong vụ án này.
3. Bùi Thị H trình bày: Bà Hlà vợ của ông Trần Hữu Đ. Bà Hthống nhất trình bày của nguyên đơn, ngoài ra không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này.
4. Bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà T2là mẹ ruột của ông Trần Hữu Đvà bà Trần Thị Linh Đ1. Bà T thống nhất trình bày của nguyên đơn, ngoài ra không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này.
* Tại phiên toà:
- Nguyên đơn ông Trần Hữu Đtrình bày: Ông Đkhông có bán đất cho bà Xnhư bà X trình bày. Ông Nguyễn Thanh D là cháu ruột của bà X mới là người bán phần còn lại của thửa đất số 2234 (là thửa số 2410) cho bà X. Sau khi mua đất của ông D thì ông Đ đã rào lại đất ông Đ mua, đào ao, nuôi cá, làm nhà tạm trên đất trước khi bà X mua đất. Ông Đ đã sử dụng đất ổn định trước khi bà X mua đất của ông D. Bà X mới mua đất từ năm 2019 đến nay nhưng trình bày hoàn toàn không nhớ gì về việc mua đất là không đúng sự thật. Tại phiên tòa, sau khi xem xét thấy phần diện tích tranh chấp 99,7 m² có 3,3 m² nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông Đ xin rút lại yêu cầu buộc bà X trả lại diện tích 3,3 m² đất. Ông Đ yêu cầu Tòa án buộc bà X trả lại 96,4 m² đất đã lấn của ông Đ, thuộc một phần thửa đất số 2410, tờ bản đồ số 22, tại xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Vương Ngọc X ngày 04/11/2020. Đối với yêu cầu phản tố của bà X thì ông Đ không đồng ý.
- Bị đơn bà Vương Ngọc Xtrình bày: Giữ nguyên quan điểm đã trình bày. Không đồng ý các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà X xin rút lại yêu cầu buộc ông Đ trả lại diện tích 3,3 m² đất do phần diện tích này nằm ngoài giấy chứng nhận. Bà X yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Hữu Đtrả lại cho bà Vương Ngọc Xphần đất có diện tíchtheo kết quả đo đạc thực tế là 96,4m², thuộc một phần thửa đất số 2410, tờ bản đồ số 22, tại xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương và buộc ông Trần Hữu Đ thực hiện việc tháo dỡ phần công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm, khôi phục lại hiện trạng thửa đất ban đầu cho bà X.
6
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Linh Đ1 trình bày: Giữ nguyên quan điểm đã trình bày. Thống nhất trình bày của nguyên đơn, yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên toà:
- Về tố tụng: Thời hạn thụ lý, giải quyết vụ án; việc cấp tống đạt văn bản pháp luật và việc tuân thủ quy định pháp luật của người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 174, Điều 175, Điều 176 Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu rút lại một phần yêu cầu phản tố của bị đơn.
Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không cung cấp, bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn tranh chấp với bị đơn về quyền sử dụng đất tọa lạc tại xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo Điều 26, Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về việc xét xử vắng mặt: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[1.3] Về việc thay đổi, rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn:
Tại phiên tòa ông Trần Hữu Đyêu cầu Tòa án buộc bà Vương Ngọc Xtrả lại 96,4 m²đất đã lấn của ông Đ (rút lại diện tích 3,3 m²), thuộc một phần thửa đất số 2410, tờ bản đồ số 22, tại xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Vương Ngọc X ngày 04/11/2020.
Tại phiên tòa bà Xyêu cầu Tòa án buộc ông Trần Hữu Đtrả lại cho bà Vương Ngọc X phần đất có diện tích theo kết quả đo đạc thực tế là 96,4m² (rút lại diện tích 3,3
7
m²), thuộc một phần thửa đất số 2410, tờ bản đồ số 22, tại xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương và buộc ông Trần Hữu Đ thực hiện việc tháo dỡ phần công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm, khôi phục lại hiện trạng thửa đất ban đầu cho bà X.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu. Như vậy, phía nguyên đơn và bị đơn tại phiên toà yêu cầu thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố theo đó yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố tại phiên toà giảm nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu này. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện và yêu cầu phản tố đối đối với phần đất có diện tích là 3,3 m².
[2] Về nội dung:
Theo kết quả đo đạc thực tế các bên đương sự xác định ranh đất tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 18-2024 ngày 12/6/2024 (bút lục số 134):
- Thửa đất số 2409, tờ bản đồ số 22 của nguyên đơn có diện tích đo đạc thực tế là 4.266,9 m² (bao gồm 99,7 m² đất tranh chấp), tăng 199,8 m² so với diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.
- Thửa đất số 2410, tờ bản đồ số 22 của bị đơn có diện tích đo đạc thực tế là 1.069,1 m² (bao gồm 99,7 m² đất tranh chấp), tăng 12,1 m² so với diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.
- Diện tích đất tranh chấp là 99,7 m² trong đó có 3,3 m² nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tài sản gắn liền với đất tranh chấp gồm có: 01 phần chuồng heo có kết cấu tường gạch cao 1,2 m, bên trên có vách tole cao khoảng 3m, mái lợp tole có diện tích 25m x02m = 50m²; hàng rào lưới B40, trụ bê tông, có diện tích 1,2m x 59m = 70,8 m².
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã có văn bản đề nghị Chi nhánh Văn phòng Đất đai thành phố B, tỉnh Bình Dương thực hiện việc áp sổ, áp thửa đối với thửa số 2409 và 2410, cùng tờ bản đồ số 22. Chi nhánh Văn phòng Đất đai thành phố B đã tiến hành áp sổ, áp thửa tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 18-2024 ngày 12/6/2024, theo đó xác định phần diện tích tranh chấp thuộc về thửa số 2410 và diện tích đất các thửa 2409 và 2410 tăng là do ranh thực tế sử dụng lấn ranh so với ranh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo hồ sơ vụ án thể hiện và trình bày của các đương sự đều xác định thửa số 2409 và thửa số 2410 có nguồn gốc được tách ra từ thửa số 2234. Theo hồ sơ gốc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK330035 cho ông Trần Hữu Đ thì thửa số 2234 có nguồn gốc của hộ ông Đặng Văn T1. Ngày 30/9/2017, tại Văn phòng C, hộ ông Đặng Văn T1 gồm có ông Đặng Văn T1, bà Văn Ái T3, ông Đặng Công K và bà Đặng Thị Thu H1 ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 2234 cho ông Trần Hữu Đ. Ngày 20/10/2017, ông Đ được cập nhật tên chủ sử dụng đối với thửa đất số
8
2234. Tuy nhiên, theo thừa nhận của nguyên đơn và ông Nguyễn Thanh Dxác định: Thửa số 2234 đã được ông D nhận chuyển nhượng từ hộ ông Đặng Văn T1 nhưng không làm thủ tục sang tên chủ sử dụng. Sau đó, ông D chuyển nhượng lại một phần thửa số 2234 có diện tích 4.067 m² (thửa số 2409) cho ông Trần Hữu Đ. Ông D và ông Đ thỏa thuận là ông Đ sẽ đứng tên cả thửa số 2234 và khi ông D chuyển nhượng phần còn lại cho ai thì ông Đ sẽ đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giùm cho ông D. Do đó, sau khi ông D chuyển nhượng phần còn lại (thửa số 2410) cho bà X thì ông Đ đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà X. Ông Đ và ông D thừa nhận việc này nhưng bà X không thừa nhận mà cho rằng bà X nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trực tiếp từ ông Đ. Theo hồ sơ vụ án có căn cứ xác định quyền sử dụng đất thửa số 2234 có nguồn gốc của ông D. Sau đó, ông D chuyển nhượng một phần có diện tích 4.067 m² (thửa số 2409) cho ông Đ vào năm 2017 và năm 2019 ông D chuyển nhượng phần còn lại của thửa số 2234 (thửa số 2410) có diện tích 1.057m² cho bà X.
Nguyên đơn ông Đ cho rằng tại thời điểm đo đạc làm thủ tục tách thửa cho bà X thì ông Đ có chứng kiến. Do diện tích đất của bà X mua không đủ tách thửa nên ông Đ có đồng ý cho đất để bà X đủ diện tích đất tách thửa nhưng chỉ cho phần đuôi đất (phần ao cá), không phải cho phần đất mặt tiền như bà X trình bày. Nguyên đơn cung cấp bản in hình chụp (bút lục số 02, 216) theo đó cho rằng: Đây là chứng cứ chứng minh nguyên đơn và ông D thống nhất thỏa thuận ông D chuyển nhượng cho nguyên đơn phần đất có cạnh hướng Bắc (theo bản đồ là giáp mương nước) có kích thước 42,22m, nguyên đơn mua đất tính theo mét ngang. Hiện tại cạnh này theo kết quả đo đạc thực tế là 38,41m. Căn cứ theo các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như thừa nhận của ông D và bà X thì diện tích đất ông D chuyển nhượng cho bà X là 1.057 m². Căn cứ theo Quyết định số 25/2017/QĐ-UBND ngày 27 tháng 9 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh B và Quyết định số 28/2019/QĐ-UB ngày 03/12/2019 của UBND tỉnh B thì diện tích đất bà X nhận chuyển nhượng là 1.057m² hoàn toàn đủ điều kiện tách thửa. Nguyên đơn cũng thừa nhận việc nguyên đơn rào phần đất nguyên đơn nhận chuyển nhượng của ông D lại trước khi bà X nhận chuyển nhượng diện tích còn lại của thửa 2234, trước khi rào đất nguyên đơn cũng không có yêu cầu cơ quan chức năng nào đo đạc lại diện tích đất nguyên đơn rào có đúng bằng diện tích nguyên đơn được chuyển nhượng không. Nguyên đơn cho rằng căn cứ theo thỏa thuận nguyên đơn nhận chuyển nhượng phần đất có kích thước mặt tiền 42,22m ngang nên nguyên đơn căn cứ vào đó kéo hàng rào. Căn cứ theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đ và bà X cũng như kết hồ sơ đo vẽ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà X thì diện tích đất của bà X đúng bằng 1.057 m², diện tích còn lại của ông Đ là 4.067,1 m² (nhiều hơn diện tích theo thỏa thuận giữa ông Đ và ông D 0,1m²). Đồng thời, căn cứ theo bản vẽ nguyên đơn cung cấp thì cũng xác định diện tích ông D chuyển nhượng cho nguyên đơn là 4.067m² và phần còn lại (phần bà X nhận chuyển nhượng là 1.057 m² đúng bằng diện tích theo giấy chứng nhận hai bên được cấp. Thêm vào đó, ông Đ cũng thừa nhận việc có tham gia việc đo đạc làm thủ tục tách thửa cho bà X, ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng một cách tự nguyện.
9
Như vậy, từ những phân tích trên xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
[3] Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp quy định pháp luật, có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
[5] Về chi phí tố tụng khác: Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá: Căn cứ vào các Điều 157, Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn phải chịu tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản này. Chi phí này được thể hiện tại Biên bản quyết toán ngày 22/7/2024, với số tiền 5.763.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26; Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 93; Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 235; Điều 244; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Luật Đất đai;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hữu Đ đối với bị đơn bà Vương Ngọc X về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Vương Ngọc X đối với nguyên đơn ông Trần Hữu Đ về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu tháo dỡ công trình, kiến trúc và yêu cầu khôi phục hiện trạng đất”.
- - Buộc nguyên đơn ông Trần Hữu Đ có trách nhiệm giao trả lại cho bị đơn bà Vương Ngọc X phần đất có diện tích diện tích 96,4 m², thuộc một phần thửa số 2410, thuộc tờ bản đồ 22, toạ lạc tại phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương (phần đất theo các điểm 2'-3' – 6, được ký hiệu A).
- - Buộc nguyên đơn ông Trần Hữu Đ tháo dỡ tài sản gắn liền một phần thửa đất số 2410, thuộc tờ bản đồ 22 (phần đất có ký hiệu A), toạ lạc tại phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương như sau: Một phần chuồng heo có kết cấu tường gạch cao 1,2 m, bên trên có vách tole cao khoảng 3m, mái lợp tole có diện tích 25m x02m = 50m²; hàng rào lưới B40, trụ bê tông, có diện tích 2m x 59m = 70,8 m².
- - Xác định đoạn thẳng từ điểm số 2' đến điểm số 6 và đoạn thẳng từ điểm số 6 đến điểm số 7 trên Mảnh trích lục địa chính có đo đạc, chỉnh lý số 18-2024 ngày 12/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố B là ranh giới chung giữa thửa đất 1409 và thửa đất số 1410, tờ bản đồ số 22.
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo)
10
- Đình chỉ yêu cầu phản tố của nguyên đơn ông Trần Hữu Đ đối với bị đơn bà Vương Ngọc X về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với phần đất có diện tích diện tích 3,3 m² toạ lạc tại phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
- Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Vương Ngọc X đối với nguyên đơn ông Trần Hữu Đ về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với phần đất có diện tích diện tích 3,3 m² toạ lạc tại phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn phải chịu phải chịu số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ hết số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) đã nộp, cụ thể: Số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002308 ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương và số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000552 ngày 04/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Hoàn trả cho bị đơn bà Vương Ngọc X số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000551 ngày 04/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Về chi phí tố tụng khác: Nguyên đơn phải chịu số tiền 5.763.000 đồng (năm triệu bảy trăm sáu mươi ba nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá và đo vẽ, được khấu trừ hết vào số tiền nguyên đơn đã nộp.
- Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án theo quy định.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Văn Thị Thanh Trúc |
11
Bản án số 139/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu tháo dỡ công trình, kiến trúc và yêu cầu khôi phục hiện trạng đất
- Số bản án: 139/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu tháo dỡ công trình, kiến trúc và yêu cầu khôi phục hiện trạng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu tháo dỡ công trình, kiến trúc và yêu cầu khôi phục hiện trạng đất
