Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

VIỆT NAM

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2024/HS - ST

Ngày: 20 - 9 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thế Nam

Bà Lê Thị Hồng Thanh

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Danh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 155/2024/HSST ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Đặng Thanh C (tên gọi khác: Đặng Thanh T), sinh năm 1978 tại Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Thợ xây; Nơi thường trú: tổ dân phố V, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Tạm trú: tổ D, ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 6/12; con ông Đặng Xuân B, sinh năm 1942 (đã chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1943; Bị cáo có vợ là Võ Thị M, sinh năm 1978 và các con Đặng Võ Phú Đ, sinh ngày 30/10/2006 và Đặng Võ Phú V, sinh ngày 24/01/2008; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Bị cáo bị áp biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/5/2024 cho đến nay.

- Bị hại: Anh Nguyễn Xuân L, sinh năm 1976.

Nơi thường trú: tổ dân phố V, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

  1. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1950 (Cha của bị hại).
  2. Bà Văn Thị T1, sinh 1949 (Mẹ của bị hại).
  3. Chị Phạm Thị Thu H, sinh năm 1984 (Vợ của bị hại)
  4. Cháu Nguyễn Phạm Khánh H1, sinh ngày 17/9/2006 (Con của bị hại).

Cùng ủy quyền lại cho anh Nguyễn Văn M1, sinh năm 1983 (em ruột của bị hại).

Cùng nơi thường trú: tổ dân phố V, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Giấy ủy quyền lập được UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế chứng thực ngày 19/01/2024, số 51, quyển số 01.SCT/CK,ĐC )

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chùa T2

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Phước Nhật P, sinh năm 1983 - Trụ trì chùa, Pháp danh: Thích Q (Quyết định bổ nhiệm trụ trì chùa T2 số 733/QĐ-BTS ngày 12/9/2022 của Ban Trị sự Giáo hội phật giáo Việt Nam tỉnh Đ).

Địa chỉ: khu phố C, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng: Anh Trần Như C1, sinh năm 1993

Nơi thường trú: tổ dân phố Vĩnh Trình, thị trấn Phú Đa, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Chổ ở: khu phố Cáp Rang, phường Suối Tre, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo có mặt; anh M1, ông P có đơn xin vắng vắng mặt, anh C1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Dương Phước Nhật P, sinh năm 1983 (pháp danh Thích Q), là chủ trì chùa T2 tại khu phố C, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Ngày 30/5/2022, ông P được Ủy ban nhân dân thành phố L cấp Giấy phép xây dựng số 379/GPXD về việc xây dựng các công trình gồm: Chánh điện, Cổng tam quan, Bảo tháp liên đài chùa T2 tại thửa đất số 55, tờ bản đồ 06, bản đồ địa chính phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Do trước đây có quen biết với Đặng Thanh C, là chủ thầu xây dựng nên ông P đã ký hợp đồng xây dựng phần Chánh điện với Đặng Thanh C, thi công xây dựng theo bản vẽ thiết kế.

Sau khi ký hợp đồng, Đặng Thanh C đã thuê lao động vào công trình để làm việc (không ký hợp đồng lao động, tiền lương thanh toán theo ngày). Tháng 10/2023, bị cáo C thuê anh Nguyễn Xuân L, sinh năm 1976, nơi cư trú: tổ dân phố V, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào làm việc tại công trình là em bà con bị cáo. Ngày 27/12/2023, bị cáo C đi giải quyết công việc tại tỉnh Bình Dương, không có mặt tại công trình xây dựng. Đến khoảng 14 giờ 00 cùng ngày, anh L và anh Trần Như C1, sinh năm 1993 (cùng nơi cư trú với anh L) thực hiện công việc vệ sinh, tưới nước rửa mái chùa tại vị trí máng xối thoát nước (chỗ giao nhau giữa 02 mái, độ cao cách mặt đất khoảng 10m). Khi đang làm việc, anh L bất cẩn ngã từ trên mái chùa xuống đất, bị thương nặng và được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1 và sau đó tử vong.

Tại Kết luận giám định tử thi số 576/KLGĐTT-TTPYĐN ngày 15/01/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận: nguyên nhân chết của anh Nguyễn Xuân L là do chấn thương sọ não gây vỡ phức tạp sọ chẩm thái dương phải, rách màng cứng, chảy máu màng mềm hai bán cầu diện rộng, tụ máu dưới màng cứng vùng chẩm, dập não diện rộng.

Tại Công văn số 73/CV-TTr ngày 02/4/2024 của Sở Y thì:

+ Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tai nạn lao động:

Do ông Đặng Thanh C (người sử dụng lao động), là cá nhân đứng ra nhận thi công xây dựng chùa T2 nhưng không xây dựng nội quy, quy trình, biện pháp làm việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động trước khi tiến hành thi công xây dựng chùa T2 theo quy định tại Điều 15 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015; mục 2 của QCVN 18:2021/BXD Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn trong thi công xây dựng được ban hành kèm theo Thông tư số 16/2021/TT-BXD ngày 20/12/2021 của Bộ X.

Do ông Nguyễn Xuân L (người bị nạn) trong quá trình di chuyển thực hiện công việc trên mái ngói tại vị trí máng xối thoát nước (chỗ giao nhau giữa 02 mái, độ cao cách mặt đất khoảng 10m) đã bất cẩn trượt ngã từ mái ngói xuống nên đất gây tai nạn cho bản thân.

+ Nguyên nhân gián tiếp dẫn đến vụ tai nạn lao động:

Do ông Đặng Thanh C (người sử dụng lao động) không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động, không tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động làm việc tại công trình xây dựng (trong đó có ông Nguyễn Xuân L) theo quy định tại Điều 14; khoản 3, Điều 16 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đặng Thanh C đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình anh Nguyễn Xuân L với số tiền 80.000.000 đồng. Gia đình anh L đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu gì thêm, đồng thời có đơn xin bãi nại cho bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số: 142/CT-VKSLK ngày 15/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố bị cáo Đặng Thanh C về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận
  • Người ủy quyền của đại diện hợp pháp bị hại, người làm chứng và đại diện người liên quan vắng mặt nên hội đồng xét xử công bố lời khai của họ tại cơ quan điều tra.
  • Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
    • + Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo: 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
    • + Trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét.
  • Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói sau cùng: Bị cáo nhận ra sai lầm của mình, kính xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người ủy quyền của đại diện hợp pháp bị hại, người làm chứng và đại diện người liên quan vắng mặt nhưng cơ quan điều tra đã xác minh, làm việc nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Khoảng 14 giờ 00 ngày 27/12/2023, tại công trình xây dựng chùa T2 thuộc khu phố C, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, anh Nguyễn Xuân L thực hiện công việc vệ sinh, tưới nước rửa mái chùa tại vị trí máng xối thoát nước. Do khi làm việc, người sử dụng lao động không thực hiện đúng các quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động nên khi đang làm việc, anh L bất cẩn ngã từ trên mái chùa xuống đất, bị thương nặng và sau đó tử vong.

Từ đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Đặng Thanh C phạm vào tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động” theo điểm a khoản 1 Điều 295 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo như trên là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ của hành vi của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng; trong quá trình lao động, sản xuất, bị cáo đã không tuân thủ các quy định về an toàn lao động, dẫn đến xảy ra vụ tai nạn lao động, hậu quả làm người lao động tử vong. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến tính mạng của bị hại mà còn ảnh hưởng đến trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, việc xử lý bị cáo theo pháp luật hình sự là cần thiết, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, cần có hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có cha ruột là ông Đặng Xuân B được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì, mẹ ruột là bà Nguyễn Thị D được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, bị hại cũng có 01 phần lỗi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; chưa có tiền án, tiền sự.

Căn cứ vào hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét bị cáo có địa chỉ nơi thường trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo được, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý, giám sát cũng đủ điều kiện giáo dục các bị cáo thành người tốt, đồng thời cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 295 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về các vấn đề khác có liên quan: Đối với ông Dương Phước Nhật P là người ký hợp đồng xây dựng với bị cáo Đặng Thanh C, thỏa thuận thi công phần Chánh điện và lặp đặt công trình theo đúng thiết kế, việc bị hại tử vong không liên quan đến trách nhiệm ông P nên không xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Đặng Thanh C phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động”.

    Xử phạt: Bị cáo Đặng Thanh C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, (ngày 20-9-2024).

    Giao bị cáo Đặng Thanh C cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015.

  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình sự; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Đặng Thanh C phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Long Khánh;
  • - Công an TP. Long Khánh;
  • - THADS TP. Long Khánh;
  • - Bị cáo; đại diện bị hại; người liên quan.
  • - Lưu HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/HS - ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 139/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đăng Thanh Cu vi pham an toan lao dong
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger