|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 139/2024/HS-ST
Ngày 18-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lò Văn Khẹt.
- Ông Đoàn Quang Mạnh.
- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Bế Hoàng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 139/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Lò Văn P, sinh ngày 16/02/1981, tại M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản Phương Y, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn C, sinh năm 1944 con bà Lò Thị P1, sinh năm 1946; vợ Lò Thị T, sinh năm 1986, có 04 con lớn sinh năm 2005 nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/3/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng:
Lường Văn Đ, địa chỉ: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lò Văn P bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào hồi 11 giờ 10 phút ngày 01/3/2024, tại nhà ở bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Công an phát hiện và bắt quả tang Lò Văn P, sinh ngày 16/02/1981 ở bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Lường Văn Đ, sinh năm 1972, địa chỉ: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.
Vật chứng thu giữ:
02 gói nilon màu xanh bên trong có chứa cục bột màu trắng thu trên mặt bàn, Lò Văn P khai là H để sử dụng và bán kiếm lời;
Số tiền 600.000, đồng (02 tờ mệnh giá 200.000, đồng và 04 tờ mệnh giá 50.000, đồng), thu giữ của Lò Văn P tự giác giao nộp khai 01 tờ 200.000, đồng là tiền bán ma túy cho người tên T1 mà có;
01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, sim số 0397585864, cũ qua sử dụng thu của Lò Văn P;
03 mảnh giấy bạc; 01 ống kim tiêm; 01 lưỡi dao lam; 01 bật lửa màu xanh Lường Văn Đ và Cà Văn S sử dụng đốt hít ma túy.
Ngày 01/3/2024 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:
01 gói nilon màu xanh thứ nhất bên trong có chứa cục bột màu trắng khối lượng 0,09 gam, lấy 0,09 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu P1;
01 gói nilon màu xanh thứ hai bên trong có chứa cục bột màu trắng khối lượng 0,40 gam, lấy 0,15 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu P2;
Cơ quan Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 616/KL-KTHS ngày 04/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận:
Mẫu ký hiệu P1, P2 là ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định P1 là 0,09 gam, P2 là 0,15 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,49 gam Heroine.
Kết luận giám định số tiền 600.000, đồng là tiền thật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lò Văn P không có ý kiến hay khiếu nại gì về các kết luận giám định nêu trên.
Quá trình điều tra Lò Văn P khai nhận:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 01/3/2024 bị cáo Lò Văn P ở nhà thì có T1 ở M, huyện M, tỉnh Sơn La và một người đàn ông bạn của T1 đến gặp hỏi mua 200.000, đồng Heroine. Sau khi nhận tiền 200.000, đồng của T1. Lò Văn P lấy 01 gói Heroine dùng lưỡi dao lam cắt ra một ít đưa cho T1. Khi có ma túy T1 hỏi xin Lò Văn P sử dụng luôn trong nhà, Lò Văn P đồng ý cho sử dụng. T1 và người bạn dùng giấy bạc, bật lửa mang theo vào góc nhà đốt hít. Lò Văn P cũng dùng kim tiêm tự chích. Lúc này có Lường Văn Đ là anh trai họ (cùng bản đến
nhờ cắt tóc). Người tên T1 rủ Lường Văn Đ sử dụng ma túy và đưa cho Lường Văn Đ ma túy, Lường Văn Đ tự đốt hít (khi sử dụng Lường Văn Đ không hỏi xin Lò Văn P), thì Công an phát hiện và bắt quả tang cùng vật chứng. Khi Công an phát hiện người tên T1 và bạn bỏ chạy.
Về nguồn gốc số ma túy: Lò Văn P khai ngày 29/02/2024 mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ 01 gói Heroine với số tiền 500.000, đồng. Sau khi có được mang về mục để sử dụng và bán kiếm lời. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Lò Văn P.
Ngoài ra Lò Văn P khai trước đó ngày 28/02/2024 người đàn ông tên T1 (tự giới thiệu) không quen biết nhờ Lò Văn P mua hộ ma túy và đưa cho Lò Văn P 100.000, đồng. Lò Văn P đi ra đầu bản P, xã C, huyện M mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ 01 gói Heroine mang về đưa cho người tên T1 và được chia cho một ít, cả hai đã sử dụng hết. Ngoài lời khai của Lò Văn P không căn cứ điều tra, xác minh.
Đối với Lường Văn Đ được xác định chưa có tiền án, tiền sự. Đã có hành vi sử dụng trái phép ma túy. Cơ quan Công an đã xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với người tên T1 đã có hành vi mua ma túy của Lò Văn P ngày 01/3/2024 và đã xin Lò Văn P sử dụng ma túy trong nhà, được Lò Văn P đồng ý, khi Công an phát hiện bỏ chạy. Nay không có cơ sở điều tra về T1 và bạn T1.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lò Văn P đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Bản cáo trạng số: 103/CT-VKS-ML ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Lò Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lò Văn P từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý";
Xử phạt Lò Văn P 24 đến 30 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”;
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt hai tội.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 0,25 gam Heroine; 02 mảnh ni lon màu xanh; 03 mảnh giấy bạc; 01 ống kim tiêm; 01 lưỡi dao lam; 01 bật lửa màu xanh (được niêm phong).
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 200.000, đồng do mua bán ma túy mà có.
Tạm giữ số tiền 200.000, đồng của Lò Văn P để bảo đảm thi hành án về án phí.
Trả lại cho Lò Văn P:
200.000, đồng thu giữ của Lò Văn P, do không liên quan đến việc phạm tội.
01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, sim số 0397585864, cũ qua sử dụng thu của Lò Văn P không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho Lò Văn P.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lò Văn P phải chịu 200.000, đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn P:
Lò Văn P thừa nhận: Ngày 01/3/2024, tại nhà của Lò Văn P ở bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Lò Văn P đã thực hiện hành vi cất giữ 0,49 gam Heroine và bán trái phép 01 gói Heroine cho người tên T1 để lấy 200.000, đồng.
Đồng thời Lò Văn P đã cho người tên T1 sử dụng ma túy tại nhà mình. Đã mặc nhiên cho bạn của T1 và Lường Văn Đ sử dụng đốt hít ma túy tại nhà. Sau khi sử dụng đốt hít ma túy bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Xét hành vi bán ma túy của Lò Văn P đã được đối chất và làm rõ tại phiên tòa: Khi trao đổi mua bán ma túy chỉ một mình người tên T1 trực tiếp trao đổi mua bán, bạn T1 không tham gia. Do đó có căn cứ xác định Lò Văn P bán ma túy cho một người.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Lò Văn P đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý của Lò Văn P được xác định: Ngày 01/3/2024, tại nhà Lò Văn P đã cho người tên T1 sử dụng đốt hít Heroine trong nhà và mặc nhiên cho Lường Văn Đ và bạn T1 sử dụng đốt hít Heroine trong nhà.
Hành vi của Lò Văn P đã phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn P là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo.
Về tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Văn P có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền.
[3]. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 0,25 gam Heroine; 02 mảnh ni lon màu xanh; 03 mảnh giấy bạc; 01 ống kim tiêm; 01 lưỡi dao lam; 01 bật lửa màu xanh (được niêm phong).
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 200.000, đồng do mua bán ma túy mà có.
Tạm giữ số tiền 200.000, đồng của Lò Văn P để bảo đảm thi hành án về án phí.
Trả lại cho Lò Văn P:
200.000, đồng thu giữ của Lò Văn P, do không liên quan đến việc phạm tội;
Trả lại cho Lò Văn P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, sim số 0397585864, cũ qua sử dụng. Được xác định không liên quan đến hành vi phạm tội.
[4]. Xét các vấn đề liên quan khác trong vụ án:
Về nguồn gốc số ma túy Lò Văn P khai được một người đàn ông không biết tên địa chỉ 01 gói Heroine với giá 500.000, đồng ở đường B, xã C, huyện M. Sau khi có được mang về mục để sử dụng và bán kiếm lời. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Lò Văn P. Nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.
Ngoài ra Lò Văn P khai trước đó ngày 28/02/2024 có người đàn ông tên T1 (tự giới thiệu) không quen biết nhờ Lò Văn P mua hộ ma túy và đưa cho Lò Văn P 100.000, đồng. Lò Văn P đi ra đầu bản P, xã C, huyện M mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ 01 gói Heroine mang về đưa cho người tên T1 và được chia cho một ít, cả hai đã sử dụng hết. Ngoài lời khai của Lò Văn P không căn cứ điều tra, xác minh.
Đối với Lường Văn Đ được xác định chưa có tiền án, tiền sự. Đã có hành vi sử dụng trái phép ma túy. Cơ quan Công an đã xử phạt vi phạm hành chính, là thỏa đáng.
Đối với người tên T1 đã có hành vi mua ma túy của Lò Văn P ngày 01/3/2024 và đã xin Lò Văn P sử dụng ma túy trong nhà, được Lò Văn P đồng ý, khi Công an phát hiện bỏ chạy. Nay không có cơ sở điều tra về T1 và bạn T1.
Do các bị cáo không có đơn và tài liệu miễn án phí, đồng thời bị cáo có nguyện vọng được nộp án phí, do đó phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn P 30 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 30 tháng tù tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt hai tội. Buộc Lò Văn P phải chấp hành hình phạt chung là 60 (sáu mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 01/3/2024.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
0,25 (không phẩy hai mươi năm) gam Heroine; 02 mảnh ni lon màu xanh (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 01/3/2024);
03 mảnh giấy bạc; 01 ống kim tiêm; 01 lưỡi dao lam; 01 bật lửa màu xanh (được niêm phong theo biên bản niêm phong vật chứng ngày 01/3/2024).
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) do mua bán ma túy mà có.
Tạm giữ số tiền 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) của Lò Văn P để bảo đảm thi hành án về án phí.
Trả lại cho Lò Văn P 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) thu giữ của Lò Văn P, do không liên quan đến việc phạm tội.
(được niêm phong theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 15/7/2024).
Trả lại cho Lò Văn P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, sim số 0397585864, cũ qua sử dụng thu của (được niêm phong theo biên bản niêm phong vật chứng ngày 01/3/2024).
Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lò Văn P phải chịu 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 18/9/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Nguyễn Minh Tuấn |
Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về mua bán trái phép chất ma tuý và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 139/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 139, ngày 18/9/2024
