Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2024/HS-ST

Ngày 17-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm; bà Lê Thị Khanh.

Thư ký phiên tòa: Ông Ung Tuấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh B - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 97/2024/TLHS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trúc G, sinh năm 1993 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; Nơi ở: Tổ G, ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị T; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/11/2023 đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Ông Nguyễn Như T1 (Chết)

Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Bà Đỗ Thị M, sinh năm 1954 (mẹ của bị hại)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình.

(Người đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 22 giờ 00 phút ngày 29/7/2023, Nguyễn Trúc G điều khiển xe ô tô biển số 66H – 007.28 lưu thông trên đường P theo hướng Ngã ba G về đường Q. Khi đến trước nhà số A ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, G đã để xe ô tô do mình điều khiển lưu thông lấn trái đường và va chạm với xe mô tô biển số 35B3 – 051.42 do ông Nguyễn Như T1 điều khiển lưu thông từ hướng ngược chiều lại, xảy ra tai nạn làm ông T1 bị thương nặng và chết tại Bệnh viện Q vào ngày 30/7/2023.

* Theo Bản kết luận giám định số 5783/KL-KTHS ngày 11/9/2023 của Phân viện khoa học hình sự Bộ C tại Thành phố Hồ Chí Minh về giám định dấu vết cơ học giữa hai phương tiện như sau:

  1. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa xe hai phương tiện: Dấu vết trượt xước, gãy, biến dạng bám chất màu đen các chi tiết bên trái xe ô tô biển số 66H – 007.28 (cản trước, bậc lên xuống cabin, bánh trước, cản bảo vệ gầm xe, đèn giới hạn thân xe, bánh ngoài trục sau) có chiều từ trước về sau, dấu vết trên bánh xe có chiều từ mặt lăn vào tâm bánh, phù hợp dấu vết trượt xước bám chất màu vàng, gãy vỡ, biến dạng các chi tiết phía trước và phía trước bên trái xe mô tô biển số 35B3 – 051.42 (bánh trước, tay lái, tay phanh, cụm đèn phía trước, mặt nạ, cánh yếm, sàn để chân) có chiều từ trước về sau, dấu vết trên bánh xe có chiều từ mặt lăn vào tâm bánh.
  2. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường P lúc xảy ra tai nạn nằm trên phần đường bên phải theo hướng từ đường Q đi đường ngã ba G.
  3. Khi xảy ra va chạm, xe mô tô biển số 35B3 – 051.42 có trạng thái chuyển trên đường P hướng từ đường Q đi ngã ba G, xe ô tô biển số 66H – 007.28 có trạng thái chuyển động theo chiều ngược lại.

* Theo Bản kết luận giám định tử thi số 8389-23/KL-KTHS ngày 22/9/2023 của Phòng K Công an Thành phố H về giám định nguyên nhân tử vong của Nguyễn Như T1 như sau: Nguyễn Như T1 chết do chấn thương sọ não.

Nguyên nhân gây ra vụ tai nạn do lỗi hoàn toàn của Nguyễn Trúc G điều khiển xe ô tô lưu thông không đúng làn đường (lấn trái) gây tai nạn làm chết 01 người (vi phạm Điều 9 Luật Giao thông đường bộ). Về phía nạn nhân Nguyễn Như T1 điều khiển xe mô tô đúng làn đường nên không có lỗi.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trích xuất được dữ liệu camera hành trình lắp đặt trên xe ô tô biển số 66H – 007.28 ghi hình lại diễn biến vụ tai nạn giao thông nói trên.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • Xe ô tô biển số 66H – 007.28 do G đứng tên chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả xe cho G.
  • Xe mô tô biển số 35B3 – 051.42 do nạn nhân T1 đứng tên chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả xe cho gia đình nạn nhân.
  • 01 đoạn video clip được trích xuất từ camera hành trình trên xe ô tô, biển số 66H-007.28 ghi lại diễn biến vụ việc.

Về dân sự: Bị cáo G đã bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền 260.000.000 đồng để khắc phục hậu quả dân sự. Gia đình nạn nhân T1 đã làm đơn bãi nại cho G và không yêu cầu gì khác.

Bản cáo trạng số 109/CT-VKS-HS ngày 27/3/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố Nguyễn Trúc G về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố phát biểu: Căn cứ vào lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa hôm nay của bị cáo cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận vào lúc 22 giờ 00 phút, ngày 29/7/2023, trước số nhà A ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Trúc G điều khiển xe ô tô lưu thông không đúng làn đường gây tai nạn làm chết ông Nguyễn Như T1. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng của người khác, gây mất trật tự an toàn giao thông đường bộ, cần truy cứu trách nhiệm hình sự để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trúc G về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015;

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo tích cực khắc phục hậu quả, gia đình bị hại bãi nại; phạm tội lần đầu; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, theo điểm dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về hình phạt đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017) xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015:

  • Xe ô tô biển số 66H – 007.28, do G đứng tên chủ sở hữu, Cơ quan CSĐT đã trả xe cho G; xe mô tô biển số 35B3 – 051.42 do nạn nhân T1 đứng tên chủ sở hữu nên Cơ quan CSĐT đã trả xe cho gia đình nạn nhân. Vật chứng đã được xử lý theo đúng quy định.
  • 01 đoạn video clip được trích xuất từ camera hành trình trên xe ô tô, biển số 66H-007.28 ghi lại diễn biến vụ việc đề nghị lưu hồ sơ vụ án.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 260.000.000 đồng, gia đình bị hại đã có đơn bãi nại, không yêu cầu gì khác nên không xem xét.

- Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trúc G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở xác định vào lúc 22 giờ 00 phút ngày 29/7/2023, trước số nhà A ấp T, xã B, huyện H, Nguyễn Trúc G điều khiển xe ô tô lưu thông không đúng làn đường gây tai nạn làm chết ông Nguyễn Như T1. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng của người khác, thuộc tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe đối với bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung.

Trong vụ án này, nguyên nhân gây ra vụ tai nạn do lỗi hoàn toàn của Nguyễn Trúc G điều khiển xe ô tô lưu thông không đúng làn đường gây Tai nạn làm chết 01 người. Về phía nạn nhân Nguyễn Như T1 điều khiển xe mô tô đúng làn đường nên không có lỗi.

Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn nên Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017).

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trúc G đã vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ và lưu thông bình thường của các phương tiện khác. Hậu

quả của hành vi phạm tội của bị cáo là tính mạng, sức khỏe của nạn nhân Nguyễn Như T1 trong vụ tai nạn. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo nhận thức rất rõ việc điều khiển xe ô tô lưu thông không đúng làn đường (lấn sang phía bên trái) theo quy định là vô cùng nguy hiểm, dễ gây tai nạn, vi phạm Luật Giao thông đường bộ nhưng vì ý thức chủ quan, bị cáo vẫn thực hiện hành vi vi phạm và gây ra vụ tai nạn như trên.

Về phía nạn nhân Nguyễn Như T1 không có lỗi khi tham gia giao thông.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét về nhân thân, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Trúc G có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, gia đình bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, quá trình tại ngoại, bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương nên Hội đồng xét xử xét quyết định áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 để cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng quy định.

[5] Tại phiên tòa, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội đi làm, phấn đấu trở thành công dân tốt, phụ giúp gia đình.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

  • 01 xe ô tô biển số 66H – 007.28 do G đứng tên chủ sở hữu Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho bị cáo G nên Hội đồng xét xử không xem xét là đúng quy định;
  • 01 xe mô tô biển số 35B3-051.42 do nạn nhân T1 đứng tên chủ sở hữu, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả xe cho gia đình nạn nhân nên Hội đồng xét xử không xem xét là đúng quy định;
  • 01 đoạn video clip được trích xuất từ camera hành trình trên xe ô tô, biển số 66H-007.28 ghi lại diễn biến vụ việc, Hội đồng xét xử lưu cùng hồ sơ vụ án là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 260.000.000 đồng, không yêu cầu gì khác, phía gia đình bị hại đã có đơn bãi nại cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét;

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017)

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trúc G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Căn cứ vào điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017)

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trúc G 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Trúc G cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về xử lý vật chứng:

Lưu cùng hồ sơ vụ án 01 đoạn video clip được trích xuất từ camera hành trình trên xe ô tô, biển số 66H-007.28.

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo Nguyễn Trúc G chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại văng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ kể từ ngày nhận

được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - Uỷ ban nhân dân xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi;
  • - Công an xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện Hóc Môn;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 139/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger