|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 139/2024/DS-ST
Ngày: 16/8/2024
“V/v Tranh chấp về ranh giới
quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Phường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Văn Hiến và bà Hồ Thị Thủy.
Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Jét - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Toàn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16/8/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 689/2023/TLST-DS ngày 03/10/2023, về việc “Tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 301/2024/QĐXXST-DS ngày 22/7/2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1957;
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Ông Trần Văn H1, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ngân Hàng TMCP Đ;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Địa chỉ trụ sở: Số A, đường T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Nguyễn Chí H2, chức vụ: Giám đốc Phòng G. Địa chỉ: Số I, đường G, khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Theo văn bản ngày 17/7/2024.
(Ông H và ông H1 có mặt; Ngân hàng vắng mặt và có đơn xin không tham gia vụ án không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm ông H trình bày:
Nguồn gốc phần đất của ông là vào năm 2001, ông nhận chuyển nhượng của ông Võ Văn B (N) diện tích khoảng 1.000m² (Khi nhận chuyển nhượng chỉ mão chứ không có đo đạc), với giá là 120.000.000 đồng. Khi đó, phần đất này ông B chưa được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hai bên chỉ làm giấy tay chuyển nhượng (Hiện nay đã thất lạc không còn). Sau khi ký kết hợp đồng thì ông đã giao đủ tiền cho ông B và ông B giao phần đất này cho ông sử dụng từ đó cho đến nay. Từ khi nhận chuyển nhượng đến nay thì ông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất này thuộc thửa số 163, tờ bản đồ số 7, giáp ranh với phần đất của ông H1 thuộc thửa số 162, tờ bản đồ số 7. Vào ngày 12/3/2012, ông H1 làm thủ tục xin được cấp giấy thì ông có ký giáp ranh cho với chiều dài 26,5m. Sau đó, ông H1 nhờ ông ký tiếp phần đất nối dài ra lộ để ông H1 làm giấy đất luôn thì ông không đồng ý vì phần đất này là phần đi chung của các hộ phía sau và khi ông H1 mua đất chiều dài chỉ có 25m. Đến năm 2021, ông H1 nhờ ông ký tên lại giáp ranh, ông H1 nói thời điểm trước không có tiền nên chưa làm giấy nay mới có tiền đi làm giấy đất lại nên ông mới ký giáp ranh (Khi đó, ông H1 đưa ông ký giấy trắng không có ghi nội dung gì) nhưng không ngờ ông H1 làm giấy đất với chiều dài 29.28m lấn qua 01 phần đất của ông. Đối với phần đất này là tài sản của cá nhân ông, không phải là tài sản chung với bất kỳ ai, vợ và các con của ông không có công sức đóng góp gì vào phần đất này. Hiện trạng phần đất đang tranh chấp ranh không có gì thay đổi so với khi Tòa án thẩm định. Ông xác định rõ lại là ông tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất với ông H1 và yêu cầu ông H1 trả phần đất đã lấn chiếm lại cho ông.
Theo đơn khởi kiện ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H1 trả lại phần đất có chiều dài một cạnh 2,58m (Chiều dài giáp ranh 29,28m - 26,7m đoạn đã xây tường), một cạnh 1,09m (R giải phóng mặt bằng bằng lộ N2 = 1,53m - 0,44m), một cạnh nối đầu cạnh 1,09m với đầu ngoài đoạn xây tường 26,7m, thuộc thửa số 162, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Nay, ông xin thay đổi yêu cầu là yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H1 trả lại cho ông phần đất đã lấn chiếm diện tích 0,9m² theo như Sơ đồ đo đạc của Tòa án, thuộc 01 phần thửa số 369, tờ bản đồ số 80, tọa lạc tại khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ngoài ra, ông không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
* Theo ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm ông H1 trình bày:
Ông không thống nhất với toàn bộ lời trình bày của ông H. Nguồn gốc phần đất của ông là vào năm 2000, ông nhận chuyển nhượng của ông Phạm Viết T1 (Đã chết) diện tích khoảng 150m² (Khi nhận chuyển nhượng chỉ mão chứ không có đo đạc), với giá là 21.000.000 đồng. Khi đó, phần đất này ông T1 chưa được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hai bên chỉ làm giấy tay
chuyển nhượng. Sau khi ký hợp đồng thì ông đã giao tiền cho ông T1 xong và ông T1 đã giao phần đất này cho ông sử dụng từ đó cho đến nay. Đến ngày 24/5/2021 thì ông được cấp giấy đất lần đầu và đến ngày 25/10/2021 thì ông đổi giấy đất lần hai cho đến nay. Đối với 02 lần cấp giấy này thì đều có cơ quan chuyên môn xuống đo đạc. Trước đây, giấy đất ông thế chấp để vay tiền của Ngân hàng BIDV huyện T nhưng nay ông đã trả xong khoản vay này và giấy đất ông đang giữ không có thế chấp cho ai. Đối với phần đất này là tài sản của cá nhân ông, không phải là tài sản chung với bất kỳ ai, vợ và các con của ông không có công sức đóng góp gì vào phần đất này. Hiện trạng phần đất đang tranh chấp ranh không có gì thay đổi so với khi Tòa án thẩm định.
Nay, ông không đồng ý theo toàn bộ yêu cầu của ông H, vì ông không có lấn đất gì của ông H. Đồng thời, ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo đường ranh ông đã xác định trong Sơ đồ đo đạc của Tòa án. Ngoài ra, ông không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
* Theo ý kiến tại biên bản hòa giải và đơn xin không tham gia vụ án ông H2 trình bày:
Ông H1 có vay của Ngân hàng số tiền 2.000.000.000 đồng, khi vay ông H1 có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất của ông H1 đang tranh chấp ranh với ông H. Đối với hợp đồng vay trên thì hiện nay ông H1 đã tất toán khoản vay trên xong và không còn bất cứ nghĩa vụ gì tại Ngân hàng. Nay, Ngân hàng không có yêu cầu gì trong vụ án này. Đồng thời, Ngân hàng xin không tham gia vụ án. Ngoài ra, Ngân hàng không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
* Ý kiến và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười:
- Về việc bảo đảm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành tốt pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến tại thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, cũng như việc chấp hành các quy định về tố tụng dân sự và thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tố tụng dân sự của các đương sự và người đại diện hợp pháp của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án được thực hiện đúng và đầy đủ nên Viện kiểm sát không có ý kiến, kiến nghị gì.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 166 của Luật đất đai; Điều 175 của Bộ luật dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
+ Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của ông H: Xác định ranh giới quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Quốc H tại thửa số 369 với đất của ông Trần Văn H1 tại thửa số 359 là đoạn đường thẳng nối qua các mốc M6 và M3᾽, đất tọa lạc tại khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
+ Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, các đương sự phải chịu án phí và chi phí tố tụng.
* Các tình tiết, sự kiện trong vụ án các bên đương sự thống nhất: Về nguồn gốc đất và các tài liệu, chứng cứ trong vụ án.
* Các tình tiết mà các bên đương sự không thống nhất: Xác định ranh giới quyền sử dụng đất các thửa đất của hai bên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật: Ông H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H1 trả lại cho ông H phần đất đã lấn chiếm diện tích 0,9m² theo như Sơ đồ đo đạc của Tòa án, thuộc 01 phần thửa số 369, tờ bản đồ số 80, tọa lạc tại khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ngoài ra, các đương sự không ai có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất” theo quy định tại Điều 175 của Bộ luật dân sự.
[2] Về thẩm quyền: Tranh chấp trên giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Phần đất đang tranh chấp tọa lạc tại khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về tố tụng:
- Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Hội thẩm nhân dân chính thức là ông Nguyễn Thanh Minh H3 và ông Nguyễn Văn Á. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm do ông H3 và ông Á bận đi công việc đột xuất nên không thể tham gia phiên tòa được thay thế bằng ông Đào Văn H4 và bà Hồ Thị T2 là Hội thẩm nhân dân dự khuyết. Các đương sự có mặt thống nhất đồng ý việc thay đổi này và không có khiếu nại gì. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
- Đối với Ngân hàng thì hiện nay ông H1 đã trả xong khoản vay vốn và không còn thế chấp gì tại Ngân hàng. Đồng thời, Ngân hàng xin không tham gia vụ án và các đương sự cũng không có ai yêu cầu gì liên quan đến Ngân hàng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với Ngân hàng.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Các đương sự đều thống nhất trình bày đối với phần đất của ông H đang tranh chấp ranh giới với ông H1 có nguồn gốc là do ông H nhận chuyển nhượng từ ông B, còn phần đất của ông H1 đang tranh chấp ranh giới với ông H có nguồn gốc là do ông H1 nhận chuyển nhượng từ ông
T1. Đồng thời, ông H và ông H1 sử dụng liên tục ổn định từ đó cho đến nay, không có phát sinh gì về ranh giới cho đến khi ông H khởi kiện. Ngoài ra, các đương sự thống nhất phần bó nền nằm trên phần đất đang tranh chấp ranh giới có giá trị là 1.000.000 đồng. Đây là những tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự vì được các bên đương sự thống nhất thừa nhận.
- Về diện tích đất: Đối với phần đất tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất giữa các đương sự có diện tích tới ranh theo bản đồ chính quy tổng cộng là 0,9m², trong phạm vi các mốc M3, M6 (Đường ranh do nguyên đơn xác định) và mốc M4, M6 (Đường ranh do bị đơn xác định) theo sơ đồ đo đạc và phụ lục kèm theo của Công ty TNHH D. Đối với phần đất đang tranh chấp của nguyên đơn là thửa số 369 và phần đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích đo đạc thực tế do nguyên đơn xác định (Trừ đường ranh đang tranh chấp trên) tới ranh theo bản đồ chính quy là 495,8m². Đối với phần đất đang tranh chấp của bị đơn là thửa số 359, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 131,7m², diện tích đo đạc thực tế do bị đơn xác định tới ranh theo bản đồ chính quy là 130,6m². Như vậy, so với diện tích được cấp thì phần đất của ông H1 thiếu 1,1m². Đồng thời, theo “Công văn số 2132/CNTM-ĐKCG ngày 03/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T thì khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H1 tại thửa đất trên thì có đo đạc, khảo sát thực tế.
- Về hiện trạng: Trên đường ranh đang tranh chấp thì các đương sự thống nhất có 01 phần bó nền do ông H1 xây, ngoài ra không còn kiến trúc hoặc cây trồng gì khác.
- Đối với thửa đất của ông H thì từ trước đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, không có số liệu để làm căn cứ giải quyết. Đối với thửa đất của ông H1 thì khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có đo đạc, khảo sát thực tế theo “Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất và Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất cùng ngày 24/3/2021 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện T”. Theo “Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 24/3/2021 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện T” có chữ ký và chữ viết họ, tên của ông H. Đồng thời, 02 văn bản trên thể hiện cụ thể chiều dài tứ cận của thửa đất này. Do đó, có đủ cơ sở để lấy tài liệu này làm căn cứ giải quyết trong vụ án này. Xét thấy, đối với đường ranh đang tranh chấp (Ranh theo bản đồ chính quy) ông H xác định là mốc M3, còn ông H1 xác định là mốc M4. Theo “Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 24/3/2021 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện T” thể hiện chiều ngang thửa đất của ông H1 là 0,54m (Cạnh 2 - 3) và 7,13m (Cạnh 3 - 4), tổng diện tích là 7,67m, còn diện tích đo đạc thực tế chiều ngang trùng với ranh theo bản đồ chính quy là 6,45m (Đoạn thẳng từ
mốc M1, M2, M3). Như vậy, so với diện tích được cấp thì chiều ngang phần đất của ông H1 giáp ranh theo bản đồ chính quy thiếu là 1,22m (Chưa tính chiều ngang đường ranh đang tranh chấp là 1,09m). Đối chiếu diện tích đo đạc thực tế với diện tích được cấp thì 03 cạnh còn lại của thửa đất này, cụ thể: Cạnh chiều dài giáp với đất bà S thì diện tích trùng khớp là 23,49m; Cạnh chiều ngang trong hậu giáp đất bà H5 thì diện tích trùng khớp là 5,14m; Cạnh chiều dài giáp với đất ông H và ông P thì diện tích đo đạc thực tế là 29,12m, còn diện tích được cấp là 29,25m, thiếu là 0,13m. Như vậy, phần đất của ông H1 còn thiếu so với được cấp 01 phần là do ông H1 xác định cạnh chiều dài ngắn hơn so với diện tích được cấp là 0,13m. Do đó, nếu căn cứ vào diện tích chiều ngang thửa đất của ông H1 là 7,67m để làm căn cứ giải quyết là không không phù hợp. Đồng thời, phần đất đang tranh chấp ranh là phần đất mặt tiền dẫn vào phần đất còn lại của ông H, nếu căn cứ theo diện tích trên thì chiều ngang còn lại của ông H chỉ còn là 0,44m thì không phù hợp với hiện trạng là con hẻm và không thể di chuyển bằng xe vào con hẻm này. Ngoài ra, trên đường ranh đang tranh chấp có 01 phần bó nền do ông H1 xây, khi ông H1 xây bó nền này thì ông H không có ngăn cản hoặc tranh chấp gì, chứng tỏ ông H thừa nhận phần đất của ông H1 tới vị trí bó nền này. Như vậy, có đủ có sở xác định phần đất thực tế mà hai bên hiện đang sử dụng tới vị trí bó nền trên. Từ mốc M6 tạo thành đường thẳng đi qua vị trí cuối của bó nền tạo thành điểm mới M3᾽ (Đoạn thẳng từ mốc M3 đến M3᾽ có chiều dài là 0,59m và đoạn thẳng từ mốc M3᾽ đến M4 có chiều dài là 0,5m). Nay, Hội đồng xét xử xác định đường ranh giữa 02 thửa đất này là đoạn thẳng nối từ mốc M6 kéo đến mốc M3᾽.
Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của ông H là có căn cứ 01 phần nên Hội đồng xét xử chấp nhận 01 phần nhận. Như vậy, phần yêu cầu của ông H được chấp nhận có diện tích là 0,4m² và phần không được chấp nhận là 0,5m². Ngoài ra, các tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật.
[5] Đối với các đương sự còn lại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
[6] Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự có mặt xác định ngoài lời trình bày và các chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì các đương sự có mặt không còn chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu của mình và cũng không yêu cầu Tòa án thu thập thêm chứng cứ nào khác. Ngoài ra, cũng không còn yêu cầu gì khác.
[7] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của ông H được chấp nhận 01 phần nên về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá ông H phải chịu phần yêu cầu khởi kiện của mình không được chấp nhận, còn ông H1 phải chịu phần yêu cầu của ông H được chấp nhận, cụ thể: Ông H yêu cầu ông H1 trả diện tích 0,9m² nhưng chỉ được chấp nhận 01 phần với diện tích là 0,4m², nếu tính phần yêu cầu khởi kiện
của ông H là 10 phần thì ông H được chấp nhận tương đương 4,5 phần, còn 5,5 phần không được chấp nhận và tổng chi phí trên là 4.440.000 đồng. Như vậy, ông H phải chịu số tiền là 2.442.000 đồng và ông H1 phải chịu số tiền là 1.998.000 đồng. Đồng thời, do ông H đã tạm ứng trước và đã chi xong nên ông H1 phải có nghĩa vụ nộp lại số tiền 1.998.000 đồng để trả lại cho ông H.
[8] Về án phí:
- Ông H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông H sinh năm 1957 tính đến nay đã trên 60 tuổi và có yêu cầu xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí. Do đó, ông H thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí quy định tại điểm đ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Ông H1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[9] Về ý kiến và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười:
- Về việc bảo đảm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành tốt pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến tại thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, cũng như việc chấp hành các quy định về tố tụng dân sự và thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tố tụng dân sự của các đương sự và người đại diện hợp pháp của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án được thực hiện đúng và đầy đủ, nên Viện kiểm sát không có ý kiến, kiến nghị gì. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
- Về đề nghị nội dung giải quyết vụ án thì từ những phân tích trên xét đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 203 của Luật đất đai; Điều 175 của Bộ luật dân sự; Khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228, Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc H.
- Xác định ranh giới quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Quốc H tại thửa số 369 với đất của ông Trần Văn H1 tại thửa số 359 là đoạn đường thẳng nối qua các mốc M6 và M3᾽, đất tọa lạc tại khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ranh đất được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật
- Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/12/2023 của Tòa án; Sơ đồ đo đạc ngày 02/02/2024 và phụ lục kèm theo ngày 16/8/2024 của Công ty TNHH D).
2. Về chi phí tố tụng:
- Ông H phải chịu 2.442.000 đồng (Hai triệu, bốn trăm bốn mươi hai nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá và ông H đã nộp xong.
- Ông H1 phải chịu 1.998.000 đồng (Một triệu, chín trăm chín mươi tám nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá. Ông H1 phải nộp lại số tiền này để trả lại cho ông H.
3. Về án phí:
- Ông H được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Ông H1 phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Phường |
Bản án số 139/2024/DS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất
- Số bản án: 139/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
