Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUẦN GIÁO

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2024/HS-ST

Ngày 16/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tuân và bà Bạc Thị Thanh Thùy.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Hưng, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 138/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn B; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; sinh ngày 25/8/1968; tại xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; giới tính: Nam; nơi cư trú: Bản M, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: Lớp 4; con ông Lò Văn N, sinh năm 1946; con bà Lò Thị L, đã chết; bị cáo có vợ là chị Lò Thị X, sinh năm 1968 và có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1998; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân bị cáo: Bị cáo bị kết án tại Bản án số: 25/2018/HS-ST ngày 12/01/2018, của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo đã chấp hành xong và được xóa án tích; bị cáo chưa từng bị xử lý vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/4/2024 đến ngày 18/4/2024, tạm giam từ ngày 18/4/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T; bị cáo được trích xuất áp giải và có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo có: Bà Hà Thị T - Trợ giúp pháp lý thuộc Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 09/4/2024, bị cáo đi bộ một mình từ nhà ở bản M, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên đến bản H, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; để tìm mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời, khi đi bộ đến khu vực ven đường trong bản H, xã Q, huyện T, thì bị cáo gặp một người đàn ông người dân tộc Thái, khoảng hơn 40 tuổi (không quen biết) đang đứng bên đường, khi gặp người đàn ông đó. Qua trao đổi, bị cáo đã mua được của người đàn ông đó 02 gói Heroine (trong đó có 01 gói nilon màu xanh và 01 gói nilon màu hồng) với giá 500.000 đồng. Khi nhận 02 gói Heroine từ người đàn ông đó, bị cáo không mở ra kiểm tra mà chỉ nhìn qua lớp nilon biết bên trong đó là H. Sau khi mua được H, bị cáo cất giấu 02 gói Heroine đó vào túi quần bên trái đang mặc trên người rồi đi bộ về nhà. Đến hồi 10 giờ 30 phút, cùng ngày khi bị cáo đang đứng trước cửa nhà bếp của bị cáo, thì bị Tổ công tác Công an huyện T đến kiểm tra, phát hiện trong lòng bàn tay trái của bị cáo đang cầm 01 gói nilon màu xanh và 01 gói nilon màu hồng, nghi bên trong các gói đều chứa chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ vật chứng và đưa bị cáo cùng vật chứng về Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T để điều tra làm rõ.

Tại Biên bản làm việc mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 09/4/2024, có sự chứng kiến của bị cáo đã xác định khối lượng cụ thể như sau: 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và dạng bột nghi ma túy loại Heroine có khối lượng là 1,11 gam được ký hiệu M1 và 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và dạng bột nghi ma túy loại Heroine có khối lượng là 0,12 gam được ký hiệu M2; gửi toàn bộ làm mẫu gửi giám định. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 449/QĐ-ĐCSHS-KTMT, ngày 10/4/2024. Tại bản Kết luận giám định số: 675/KL-KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Lò Văn B có khối lượng 1,23 gam là chất Ma túy: Loại Heroin (H). Hoàn lại đối tượng giám định 1,13 gam.

Tại Cáo trạng số: 97/CT-VKSTG ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; đã truy tố bị cáo về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu vật chứng gồm 01 phong bì niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh Đ các mép đều được dán kín bên trong phong bì có mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng là 1,13 gam Heroine và 01 gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong là vật chứng còn lại vụ Lò Văn B gồm: 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng để tiêu hủy. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí; nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị: Nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo về tội danh và đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, đề nghị xem xét về hoàn cảnh gia đình, nhân thân của bị cáo đề nghị HĐXX tuyên mức hình phạt thấp nhất có thể đối với bị cáo. Đề nghị không phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét miễn hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo:

Quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, Biên bản niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng, Kết luận giám định; Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị cáo và các chứng cứ khác; do đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 09/4/2024, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 02 gói nilon bên trong có chứa tổng khối lượng 1,32 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Số ma túy bị thu giữ, bị cáo mua của một người đàn ông không rõ lai lịch với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Số ma túy mua được bị cáo chưa sử dụng và chưa kịp bán cho ai thì bị phát hiện thu giữ. Hành vi tàng trữ 1,23 gam Heroine nhằm mục đích bán lẻ kiếm lời, đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố và Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo đã vi phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự trị an tại địa phương và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định, phát triển của xã hội, cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Bị cáo đã từng được Nhà nước cải tạo, giáo dục nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân trở thành người sống tốt và tuân thủ pháp luật; mà bị cáo cố ý hành vi phạm tội; qua đó thấy rằng bị cáo có thái độ coi thường pháp luật, thiếu ý thức rèn luyện. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo và cũng nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Quá trình tố tụng bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định; bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành; nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Xét đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tại phiên tòa: Hội đồng xét xử thấy phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa: Hội đồng xét xử xét thấy về mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ, điều kiện hoàn cảnh của bị cáo mà người bào chữa đã đề nghị là phù hợp, có căn cứ; nên HĐXX chấp nhận.

[7] Về vật chứng:

Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để xử lý vật chứng như sau:

- Đối với vật chứng hoàn lại sau giám định của vụ Lò Văn B có khối lượng là 1,13 gam Heroine, do đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy.

[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí; nên bị cáo đủ điều kiện được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo quá trình trao đổi mua bán không rõ lai lịch, nên không có cơ sở xác minh làm rõ; do đó tại vụ án này HĐXX không xem xét.

[10] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Không có ý kiến khiếu nại các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của Pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự;

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lò Văn B 03 (Ba) năm 02 (Hai) tháng tù; thời gian thi hành án phạt tù tính từ ngày 09/4/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 329 BLTTHS, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

3. Vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh Đ các mép đều được dán kín bên trong phong bì có mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng là 1,13 gam Heroine và 01 gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong là vật chứng còn lại vụ Lò Văn B gồm: 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.

(Đặc điểm vật chứng được ghi theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo).

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 16/7/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - Phòng HC, Sở tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - CQCSĐT Công an huyện Tuần Giáo;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Tuần Giáo
  • - Bộ phận HSNV Công an huyện Tuần Giáo;
  • - VKSND huyện Tuần Giáo;
  • - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - THAHS + Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lương Thị Nga

7

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Văn Tuân Bạc Thị Thanh T1Lương Thị N1
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 139/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Muua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger