TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 139/2023/HSST Ngày: 14/08/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Diệu Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Như Hùng
- Ông Nguyễn Quang Đạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Từ Ngọc Thuý - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Thế Song - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 08 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 131/2023/HSST ngày 28 tháng 07 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 249/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 08 năm 2023 đối với bị cáo:
PHAN NGUYỄN THANH T, sinh ngày 31/03/2003 tại B; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 151 T, phường A, thành phố T, tỉnh B; Chỗ ở: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phan Văn P và bà Nguyễn Ngọc T; Tiền án, tiền sự: Không; Bắt truy nã ngày 18/05/2023, tạm giữ ngày 18/05/2023, tạm giam ngày 21/05/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an thành phố Hà Nội - Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Anh Nguyễn Hoàng Q, sinh năm 2002; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phường X, thị xã Đ, tỉnh Q; Nơi tạm trú: Số nhà 8B, ngõ 109, đường T, phường P, quận T, H - Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Nguyễn Thanh T là người thuê trọ tại phòng 407, nhà 8B, ngõ 109 đường T, phường P, quận T, H. Tại đây, tầng 4 căn nhà có 08 phòng trọ đánh số từ 401 đến 408. Ngày 16/01/2023, T nhặt được 01 chiếc chìa khoá bằng kim loại tại tầng 4. T nghĩ đây là chìa khoá của một trong các phòng trọ trên nên đã nảy sinh ý định dùng chiếc chìa khoá này để mở khoá phòng, trộm cắp tài sản. Lợi dụng lúc các phòng trọ vắng vẻ, T sử dụng chìa khoá nhặt được tra vào ổ khoá các phòng. Khi đến phòng 404 của anh Nguyễn Hoàng Q thì mở được cửa phòng. T đi vào bên trong nhưng không thấy có tài sản gì nên khoá cửa phòng lại như ban đầu rồi cất chìa khoá đi. Đến ngày 28/01/2023, T phát hiện anh Q sử dụng 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu MSI GF63 Thin 11SC - 666VN màu đen nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 16 giờ 00 ngày 01/02/2023, T đi làm về thì thấy phòng anh Q đóng cửa, biết anh Q không ở nhà nên T dùng chiếc chìa khoá nhặt được mở khoá phòng anh Q và trộm chiếc máy tính xách tay anh Q để trên bàn làm việc, giấu vào trong áo khoác, đi ra khỏi phòng và khoá cửa lại như cũ. T đem chiếc máy tính giấu dưới đệm giường trong phòng T và vứt chiếc chìa khoá vào thùng rác tầng 1. Đến khoảng 21 giờ 55 phút cùng ngày, anh Q về, phát hiện mất chiếc máy tính trên nên ngày 03/02/2023, anh Q đến Công an phường Phương liệt trình báo. Cùng ngày 03/02/2023, T đã mang chiếc máy tính xách tay đến Công an phường để đầu thú.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 13/02/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận Thanh Xuân kết luận: 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu MSI GF63 Thin 11SC - 666VN, W/LCD 15.6 FHD, CPU: Core i5 - 11400H trị giá 10.000.000 đồng.
Phan Nguyễn Thanh T sau khi được cơ quan Công an cho về chờ xử lý đã bỏ trốn nên Cơ quan Công an ra lệnh truy nã đối với T. Ngày 18/05/2023, T bị bắt theo lệnh truy nã.
Tại cơ quan điều tra, T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.
Ngày 03/02/2023, Cơ quan Công an đã trao trả chiếc máy tính xách tay cho anh Nguyễn Hoàng Q, anh Q đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự và có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho T.
Tại bản cáo trạng số 124/CT-VKSTX ngày 24 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố Phan Nguyễn Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Phan Nguyễn Thanh T từ 07 đến 10 tháng tù; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự nên không xét.
Tại phiên toà:
Bị cáo T giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng: Về các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Xuân, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân thu thập; về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Xuân, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập, thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Ngày 01/02/2023, bằng thủ đoạn lén lút, Phan Nguyễn Thanh T đã chiếm đoạt 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu MSI GF63 Thin 11SC - 666VN màu đen, có giá trị 10.000.000 đồng, là tài sản thuộc sở hữu của anh Nguyễn Hoàng Q. Đối chiếu quy định của pháp luật, Phan Nguyễn Thanh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.
[3]. Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm, trong đó có tội xâm phạm sở hữu, góp phần bảo vệ tài sản của nhân dân cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.
[4].Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, để cải tạo giáo dục bị cáo và làm bài học răn đe người khác, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, người bị hại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo để giảm một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, tài sản trộm cắp có giá trị không lớn đã được thu hồi trả người bị hại nhưng trong thời gian được tại ngoại chờ xử lý, T đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú, gây khó khăn cho cơ quan điều tra. Ngoài ra, bản thân T không có nơi cư trú cố định nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[5].Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[6]. Về dân sự: Người bị hại - anh Nguyễn Hoàng Q đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự nên không xét.
[7]. Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của T 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu MSI GF63 Thin 11SC - 666VN màu đen nhưng quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trao trả cho người bị hại nên Hội đồng xét xử không xét.
Đối với chiếc chìa khoá T dùng để mở khoá của phòng trọ của anh Q, do sau khi trộm cắp tài sản, T đã vứt đi, không thu hồi được nên không có căn cứ để xem xét
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Phan Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
- Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
[1]. Xử phạt: Phan Nguyễn Thanh T 06 (sáu) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/05/2023
[2].Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
[3]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án sơ thẩm.
Nơi nhận :
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Diệu Thúy |
Bản án số 139/2023/HSST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 139/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS
