Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:139/2024/HS-ST

Ngày: 14-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • 1. Ông Nguyễn Văn Tư
    • 2. Bà Nguyễn Thị Thuỷ
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Nam – Kiểm sát viên.

Trong ngày 14/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 128/2024/HSST ngày 20/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/QĐXXST – HS ngày 02/7/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn G, sinh năm 1973; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Số nhà E, ngách H, tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/10; Bố: Nguyễn Văn T, sinh năm 1930 (đã chết); Mẹ: Lê Thị K, sinh năm 1932 (đã chết); Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là thứ năm; Vợ: Chu Thị T1, sinh năm 1973 (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 1996; Nhân thân: Ngày 04/01/2011, bị Công an thành phố B quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 14/4/2024 đến ngày 23/4/2024 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại và có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Công ty Cổ phần Q

Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Duy L – Chức vụ: Chủ tịch HĐQT

1

Đại diện theo uỷ quyền: Anh Trịnh Hoàng L1 - Sinh năm 1988 (Xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Văn C, sinh năm 1997 (Vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

  3. Anh Vũ Minh Đ, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Số nhà E, đường X, tổ dân phố N, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 12/4/2024, Nguyễn Văn G, sinh năm 1973, trú tại tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đi bộ tập thể dục. Khi đi đến khu vực đường gom cao tốc Hà Nội - Bắc Giang đối diện với Nhà thi đấu thể thao tỉnh B thuộc tổ dân phố T, phường D, thành phố B thì G nhìn thấy ở ven đường có công trình đang thi công đào đất, tại đây có một đoạn dây cáp điện đã bị đào lên, một phần dây cáp điện lộ ra ngoài còn một phần vẫn nằm trong ống gen dưới rãnh nên G nảy sinh ý định trộm cắp để bán. Số dây cáp điện này là của Công ty cổ phần Q lắp đặt cho hệ thống điện chiếu sáng công cộng. Quan sát xung quanh thấy không có người qua lại, G dùng hai tay cầm vào đầu dây cáp điện kéo ra khỏi ống gen sau đó kéo đoạn dây cáp điện qua đường cao tốc, cất giấu ở bụi cây ven đường rồi đi về nhà.

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 14/4/2024, G đi ra cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh B thuê anh Trần Văn C, sinh năm 1997, trú tại thôn Đ, xã T, thành phố B làm nghề lái xe taxi chở đến địa điểm cất giấu đoạn dây cáp điện trước đó. G nói với anh C là đi lấy phế liệu do G tìm nhặt được tại công trường xây dựng. Khi đến nơi, G xuống xe đi bộ đến vị trí cất giấu dây cáp điện, dùng tay bê cuộn dây cáp điện để vào cốp xe taxi. G bảo anh C chở đến cửa hàng thu mua phế liệu của anh Vũ Minh Đ, sinh năm 1986 ở số nhà E, đường X, tổ dân phố N, phường X, thành phố B để bán. Khi đến nơi anh C ngồi trên xe chờ còn G đem cuộn dây cáp điện trên cốp xe ô tô xuống. Anh Đ kiểm tra cuộn dây cáp điện này nghi ngờ do trộm cắp nên đã gọi điện báo cho Công an phường X biết. Sau đó, Công an phường X đến lập biên bản sự việc, thu giữ của Giới 01 đoạn dây cáp điện có đặc điểm mang nhãn hiệu CADI-SUN ELECTRIC

2

CABLE ***** 0,6/1KV Cu/XLPE/PVC/DSTA 3cx16+1cx10 SMM 1003800009, cân kiểm tra có trọng lượng 30,4kg, đo đoạn dây cáp điện dài 27m.

Kết luận định giá tài sản số 71/KL-HĐ ngày 16/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 đoạn dây cáp ngầm mua mới năm 2021, nhãn hiệu CADI-SUN ELECTRIC CABLE ***** 0,6/1KV Cu/XLPE/PVC/DSTA 3cx16+1cx10 SMM 1003800009, trọng lượng 30,4kg, dài 27m đã qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm ngày 12/4/2024 là 4.050.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 133/CT - VKS ngày 19/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn G ra trước Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang để xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Văn G đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như Cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Về kết quả định giá bị cáo không có ý kiến gì.

Đại diện theo uỷ quyền của bị hại anh Trịnh Hoàng L1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được Hội đồng xét xử công bố lời khai. Bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G từ 6 đến 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Giao bị cáo G cho UBND phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • - Do bị cáo không có tài sản riêng, hiện đang làm lao động tự do nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Đại diện Công ty Cổ phần Q không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

Ngoài ra, cần áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc

3

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, đại diện bị hại, người liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt đại diện theo uỷ quyền của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa đại diện theo uỷ quyền của bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, việc vắng mặt họ không ảnh hưởng tới kết quả xét xử do họ đã có lời khai trong hồ sơ. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt đại diện theo uỷ quyền của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là có căn cứ.

[3] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn G đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình gây ra. Lời khai nhận hành vi của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 06 giờ ngày 12/4/2024, Nguyễn Văn G đi bộ tập thể dục tại khu vực đường gom cao tốc Hà Nội - Bắc Giang thuộc tổ dân phố T, phường D, thành phố B thì nhìn thấy ở ven đường có một đoạn dây cáp diện của Công ty cổ phần Q lắp đặt cho hệ thống điện chiếu sáng công cộng nhưng đã bị đào lên để phục vụ công trình đang thi công (loại dây cáp điện nhãn hiệu Cu/XLPE/PVC/DSTA (3cx16+1cx10)mm dài 27m, trọng lượng 30,4kg). Giới kéo đoạn dây cáp điện đem đi cất giấu ở bụi cây ven đường. Ngày 14/4/2024, G thuê xe taxi chở số dây cáp điện

4

này đến cửa hàng thu mua phế liệu của anh Vũ Minh Đ để bán thì anh Đ nghi ngờ do trộm cắp nên đã báo cho Công an phường X đến lập biên bản sự việc và thu giữ vật chứng. Tài sản mà G trộm cắp trị giá 4.050.000 đồng

[4] Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn G đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo 01 lần thực hiện hành vi phạm tội với tổng giá trị tài sản trộm cắp là 4.050.000 đồng. Do vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo mặc dù ít nghiêm trọng xong đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Về nhân thân: Ngày 04/01/2011, bị Công an thành phố B quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

[9] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, điều luật đã viện dẫn. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ để cải tạo bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

Do bị cáo không có tài sản riêng, hiện đang là lao động tự do nên không cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung và cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

5

[10] Về trách nhiệm dân sự: Công ty Cổ phần Q đã nhận lại tài sản bị cáo trộm cắp. Đến nay đại diện Công ty Cổ phần Q không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên về trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

[11] Đối với anh Trần Văn C là lái xe taxi được Nguyễn Văn G thuê chở đến đường gom cao tốc lấy đoạn dây cáp điện đem đến cửa hàng thu mua phế liệu của anh Vũ Minh Đ để bán nhưng anh C không biết là số tài sản này là do G trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.

[13] Ngoài ra cần áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 136; các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự để buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 7 (bẩy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/7/2024).

Giao bị cáo G cho UBND phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo G phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi

6

hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Báo cho bị cáo có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang(1b);
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang (2b);
  • - THADS thành phố Bắc Giang (4 b);
  • - Lưu HS.VP (1b);
  • - Công an thành phố Bắc Giang;
  • - UBND phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc giang, tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lương Thị Thanh Quyên

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 14/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 139/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn G phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger