|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 139/2024/KDTM-PT
Ngày: 11 tháng 6 năm 2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Phạm Thị Mai | |
| Các Thẩm phán :Bà Lê Thúy Linh | Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh |
Thư ký phiên tòa: ÔngLê Hồng Hòa - Thư ký Toà án nhân dân TP Hà Nội
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Phan Thị Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 76/2024/TLPT - KDTM ngày 25/3/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 72/2023/KDTM-ST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 229/2024/QĐXXPT-KDTM ngày 19/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng T1.
Địa chỉ: Tòa nhà C, A T, quận H, TPHà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Hữu M - Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị Thanh H - Phó giám đốc G - Chi nhánh T2.
Ông Nguyễn Như H1 – Phó phòng pháp chế;
Ông Phạm Duy H2; - Cán bộ phòng xử lý nợ.
Ông Nguyễn Văn T; Bà Vũ Thu Hoài L – Cán bộ phòng giao dịch
Bị đơn: Ông Nguyễn Bá C, sinh 1972;
Bà Nguyễn Thị H3, sinh 1975.
Địa chỉ: Số 1 ngõ H, tổ E, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Bá V, sinh 1963;
- Bà Nguyễn Thị H4, sinh 1966;
- Chị Nguyễn Thị N, sinh 1986;
- Chị Nguyễn Thị H5.
- Ông Nguyễn Bá B.
- Chị Nguyễn Thị Thúy N1, sinh năm 1995
- Chị Nguyễn Hằng N2, sinh năm 2000
Địa chỉ: Số A N, tổ E, phường Y, quận H, TP Hà Nội
Địa chỉ: Số A N, tổ E, phường Y, quận H, TP Hà Nội.
Địa chỉ: Số 1 ngõ H, tổ E, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn Ngân hàng T1 (GP.Ban K) do người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Do có nhu cầu vay vốn, ngày 29/4/2011, ông Nguyễn Bá C và bà Nguyễn Thị H3 đã ký kết với GP.Ban K Hợp đồng tín dụng số 0146/HĐTD-GPBTLG/11 đề vay số tiền 1.900.000.000 đồng; Mục đích vay để thanh toán tiền mua đất tại thửa đất số 309 tờ bản đồ số 6 thôn N, xã Y, huyện H, tỉnh Hà Tây (nay là quận H, thành phố Hà Nội); Thời hạn vay 12 tháng; Áp dụng lãi suất thả nổi, thay đổi 1 tháng/01 lần vào ngày 10 hàng tháng, bằng lãi suất tiết kiệm + biên độ tại thời điểm điều chỉnh, lãi suất đầu tiên 25%/năm. GP.Ban K đã giải ngân cho ông C bà H3 số tiền 1.900.000.000 đồng tại khế ước nhận nợ số LD: 1111900004 ngày 29/4/2011 được ký kết giữa hai bên. Để đảm bảo cho khoản vay, hộ ông Nguyễn Bá C đã ký với GP.Ban K Hợp đồng thế chấp ngày 27/4/2011 để thể chấp tài sản là: quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 308 tờ bản đồ số 6, diện tích 71,7m2, địa chỉ thôn N, xã Y, huyện H, tỉnh Hà Tây (nay là phường Y, quận H, thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 691478 do UBND huyện H cấp ngày 11/9/2003 cho hộ ông Nguyễn Bá C.
Trong quá trình vay ông C, bà H3 đã thanh toán được số tiền gốc 415.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 425.469.917 đồng và lãi phạt 29.009.430 đồng. Ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi được xác định là ngày 25/4/2012, vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc vào ngày 29/4/2012.
Về lãi suất áp dụng: Ngân hàng có 2 lần điều chỉnh lãi suất vào ngày 10/7/2011 và ngày 10/4/2012, kể từ ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ 25/4/2012 GP.Ban K không điều chỉnh lãi suất nữa. GP.Ban K có thông báo về khoản nợ quá hạn cho khách nhưng mỗi lần điều chỉnh lãi suất GP.Ban K không thông báo cho khách hàng.
Tạm tính đến ngày 16/11/2023, ông C bà H3 còn nợ GP.Ban K tổng số tiền 7.842.665.362 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.485.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 40.425.917 đồng; Lãi quá hạn (lãi trên dư nợ gốc + lãi trên dư nợ lãi): 6.317.239.445 đồng. Ngân hàng G2.Ban K khởi kiện đề nghị Tòa án:
- Buộc ông C bà H3 phải trả cho GP.Ban K số tiền nợ tạm tính đến ngày 16/11/2023 theo hợp đồng tín dụng số ngày 0146/HĐTD-GPB1LG/11 ngày 29/4/2011 đã ký kết, số tiền tạm tính đến ngày 16/11/2023 tổng số tiền 7.842.665.362 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.485.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 40.425.917 đồng; Lãi quá hạn (lãi trên dư nợ gốc + lãi trên dư nợ lãi): 6.317.239.445 đồng.
- Tiếp tục tính lãi khoản nợ cho đến khi tất toán khoản vay.
- Nếu ông C, bà H3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì GP.Ban K có quyên đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp quyền sử dụng hợp pháp thửa đất số 308 tờ bản đồ số 6, địa chỉ thôn N, xã Y, huyện H, tỉnh Hà Tây (nay là phường Y, quận H, thành phố Hà Nội), diện tích 71,7m2 được UBND huyện H, tỉnh Hà Tây cấp Giấy chứng nhận quyên sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Bá C, số 00376 QSDĐ/2204 QĐ/UB và còn thế chấp nếu tài sản thế chấp bao gồm quyền sử dụng đất thì mọi tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, nếu tài sản thế chấp có vật phụ thì vật phụ của tài sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản thể chấp cũng thuộc tài sản thế chấp.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho GP.Ban K, sau khi trừ đi các chi phí phát sinh. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết các khoản nợ thì đề nghị Tòa án tuyên ông C, bà H3 phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho GP.Ban K.
Bị đơn ông Nguyễn Bá C và bà Nguyễn Thị H3 trình bày:
Ngày 29/4/2011 vợ chồng ông bà đã ký kết với GP.Ban K Hợp đồng tín dụng số 0146/HĐTD-GPBTLG/11 để vay số tiền 1.900.000.000 đồng. Tính đến thời điểm này ông bà còn nợ ngân hàng số tiền gốc 1.485.000.000 đồng. Để đảm bảo khoản vay ông bà có thế chấp quyền sử dụng hợp pháp thửa đất số 308 tờ bản đồ số 6, địa chỉ thôn N, xã Y, huyện H, tỉnh Hà Tây (nay là phường Y, quận H, thành phố Hà Nội) diện tích 71,7m² được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Bá C, số 00376 QSDĐ/2204 QĐ/UB. Khi vay tình trạng tài sản không giống như trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông đã nói với cán bộ ngân hàng cho vay nhưng cán bộ ngân hàng bảo chỉ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là được.
Khi thế chấp trên đất đã có nhà 2,5 tầng như hiện nay. Ngôi nhà xây 1/2 trên diện tích đất của ông và 1/2 lại xây trên đất của ông V. Tiền xây nhà do ông Nguyên Bá B1 (anh trai ông V) bỏ tiền ra xây cho gia đình ông V ở. Ông B1 xây cả sân và cổng, song sắt và tường. Thực tế là như vậy, còn ông không có tài liệu gì để xuất trình cho tòa. Trong cả thửa đất thì có 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông V, còn 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Nguyễn Bá C mà hiện nay ông đang thế chấp tại Ngân hàng T1.
Ông đưa ra phương án trả tổng khoản nợ này số tiền 2.200.000.000 đồng hoặc để cho ngân hàng gộp 2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông và ông V sau đó ngân hàng bán phần đất của ông nhưng ngân hàng cũng không đồng ý phương án này.
Đề nghị ngân hàng xem xét điều kiện hoàn cảnh của ông để tạo điều kiện miễn toàn bộ khoản tiền lãi cho ông để có điều kiện trả gốc ngân hàng. Nếu GP.Ban K vẫn tính lãi thì ông đề nghị Tòa án điều chỉnh lãi xuống bằng mức lãi xuất vay của năm 2011 do Ngân hàng N4 quy định là 14%/năm, 15%/năm để vợ chồng ông có điều kiện trả nợ cho GP.Ban K, lãi mà GP.Ban K áp dụng là quá cao.
Người có quyền lợi, liên quan trình bày:
- Ông Nguyễn Bá B trình bày: Tổng diện tích của thửa đất là 180m2, đất của bố mẹ ông mua của người khác, tiền do ông bỏ ra. Năm 2003 ông là người đứng ra lo làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C và ông V, cắt ngang thửa đất. Năm 2005, để thuận lợi cho việc làm nhà thì anh em nhà ông đã thống nhất phân chia lại, để cả 2 nhà đều có mặt tiền nên anh em nhà ông chia lại đất theo chiều dọc của thửa đất, bớt lại khoảng 40m² làm đường đi, do ông V chưa có nhà nên anh em nhà ông thống nhất để cho ông V một nửa, còn ông và ông C một nửa diện tích đất còn lại. Sau đó, ông mua nhà khác cho ông C địa chỉ số I ngõ H, tổ E, Y, H, Hà Nội để ở, chính vì vậy đã bớt lại một nửa diện tích đất trên tổng diện tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông C là 71.7m2, nên ông C chỉ có 35,85m² đất, còn 35,85m² của ông. Do anh em trong nhà vẫn đoàn kết, nhà đất và nhà ở của các em ông đều do ông mua và làm nhà, giữa anh em nhà ông cũng chưa làm lại GCNOSDĐ cho đúng với hiện trạng đất, việc ông C thế chấp đất thì ông không biết.
- Ông Nguyễn Bá V trình bày: Ông đi Hàn Quốc từ năm 1997 đến năm 2010 mới về Việt Nam. Nhà ông đang ở là do ông B xây dựng, tiền của ông B. Trong gia đình thì ông B là anh cả luôn biết quan tâm, bỏ tiền ra xây nhà, mua đất cho các em trong gia đình.
- Bà Nguyễn Thị H4 trình bày: Bà cho rằng tiền xây nhà là của vợ chồng bà.
- Chị Nguyễn Thị Thúy N1 trình bày: Tại bản khai ngày 04/12/2022, vào năm 2011 bố mẹ chị là ông C và bà H3 có ký Hợp đồng thế chấp thửa đất số 308, tờ bản đồ số 6, thôn N, Y, H, Hà Nội, chị không biết được việc bố mẹ chị vay ngân hàng, nói tôi ký thì tôi đã ký vào Hợp đồng thế chấp, C1 có quan điểm như bố mẹ chị và xin được vắng mặt các buổi hòa giải cũng như phiên tòa liên quan đến vụ án này.
Ngôi nhà trên tài sản thế chấp mà hiện nay ông Nguyễn Bá V đang sử dụng là tiền của ông bỏ ra xây nhà năm 2006 cho ông V sử dụng. Ngôi nhà này nằm cả trên đất của ông Nguyễn Bá C và đất của ông Nguyễn Bá V, xây hết khoảng 1.200.000.000 đồng. Ông không nghĩ đến việc phải tranh chấp như hiện nay nên ông cũng không còn giấy tờ tài liệu gì liên quan đến việc xây nhà này để cung cấp cho tòa. Thời điểm năm 2006 xây nhà cũng không phải xin giấy phép xây dựng.
Bản án kinh doanh sơ thẩm số 72/2023/KDTM-ST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử đã quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T1 (GP.Ban K) đối với ông Nguyễn Bá C và bà Nguyễn Thị H3 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng (ngắn hạn) số 0146/HĐTD-GPBTLG/11 ngày 29/4/2011.
- + Số tiền nợ gốc: 1.485.000.000 đồng
- + Số tiền nợ lãi trong hạn: 280.091.667 đồng
- + Số tiền nợ lãi quá hạn: 3.975.039.063 đồng
- Hợp đồng thế chấp ngày 27/4/2011 ký kết giữa GP.Ban K và hộ ông Nguyễn Bá C tuyên vô hiệu. Không chấp nhận yêu cầu về xử lý phát mại tài sản thế chấp của GP.Ban K theo hợp đồng thế chấp ký ngày 27/4/2011 giữa GP.Ban K và hộ ông Nguyễn Bá C. GP.Ban K phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00376/QSDĐ/2204 QĐ/UB ngày 11/9/2003 của thửa đất thế chấp tờ bản đồ số 06, thửa 308 tại thôn N, xã Y, huyện H, tỉnh Hà Tây, xóa thế chấp cho hộ ông Nguyễn Bá C theo quy định.
- Không chấp nhận yêu cầu tính phạt chậm trả lãi tạm tính đến ngày 16/11/2023 số tiền 131.497.287 đông (một trăm ba mươi mốt triệu, bốn trăm chín mươi bảy nghìn, hai trăm tám mươi bảy đồng).
- GP.Ban K phải trả lại cho ông C bà H3 số tiền lãi phạt chậm trả lãi đã trả cho GP.Ban K 29.009.430 đồng tính từ ngày 25/4/2012 đến ngày 29/4/2012 và số tiền lãi trong hạn đã nộp thừa 145.378.250 đồng, nhưng được tạm giữ lại để đối trừ vào nghĩa vụ phải trả nợ của ông C bà H3 choNgân hàng GP.Ban K chưa thanh toán xong.
- Buộc ông C bà H3 phải thanh toán cho GP.Ban K tổng số tiền tạm tính đến ngày 16/11/2023 là 5.740.130.729 đồng (năm tỷ, bảy trăm bốn mươi triệu, một trăm ba mươi nghìn, bảy trăm hai chín đồng), trong đó gồm:
Xác nhận số tiền nợ lãi trong hạn ông C bà H3 đã thanh toán xong cho GP.Ban K.
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm ông C bà H3 còn phải tiếp tục chịu lãi suất đối với khoản nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký kết nhưng phải phù hợp với Luật Các tố chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi suất áp dụng cho hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi trả nợ xong số tiền nợ gốc.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm Ngân hàng T1 có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm. Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả không được chấp nhận và hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm ngày 27/4/2011.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu kháng cáo về lãi trong hạn, lãi quá hạn. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đối với hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm ngày 27/4/2011 theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Bà C2 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội trình bày quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án có nội dung chính: Tại phiên tòa HĐXX đã thực hiện đúng quy định và yêu cầu chung của phiên tòa phúc thẩm: Thành phần HĐXX phúc thẩm, phạm vi xét xử phúc thẩm đúng quy định tại Điều 64 và Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 51 BLTTDS. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, các đương sự đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghia vụ theo quy định tại các diều 70,71,72, 73 và 74 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo:
Hợp đồng tín dụng là hợp đồng tín dụng ngắn hạn chỉ 12 tháng, hai bên thỏa thuận lãi suất 25%/năm là thời điểm này lãi suất tiền gửi cũng cao, thỏa thuận tự nguyện của các bên phù hợp với Điều 90, 91 Luật các tổ chức tinsd ụng nên phải được chấp nhận. Cấp sơ thẩm cho rằng thời điểm này để chống lạm phát nên ngày 24/02/2011 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP nên Ngân hàng N4 cũng ban hành thông tư điều chỉnh lãi suất xuống nhằm chống lạm phát. Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm căn cứ Thông tư số 02/2011/TT-NHNN ngày 03/3/2011 và số 30/11/TT-NHNN ngày 28/9/2011 của Ngân hàng N4 để điều chỉnh lãi suất khoản vay của bị đơn tại thời điểm vay là 14,5%/năm là không phù hợp. Cần chấp nhận mức lãi suất trong hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là 40.425.917đồng. Cấp sơ thẩm ấn định mức lãi suất 14,5%/năm và quá hạn là 150% lãi suất cho toàn bộ thời gian vay là không phù hợp với thỏa thuận các bên trong hợp đồng tín dụng. Cần điều chỉnh mức lãi suất quá hạn theo đúng các đợt điều chỉnh theo như tài liệu về lãi suất G cung cấp tại cấp phúc thẩm. Xác định lãi quá hạn bị đơn phải thanh toán là 3.322.200.638đồng.
Đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn sửa bản án sơ thẩm theo hướng: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ngân hàng, buộc bị đơn phải thanh toán trả nợ gốc 1.485.000.000đồng, lãi trong hạn 40.425.917đồng. Tổng số tiền bị đơn phải trả tính đến ngày 16/11/2023 là 4.847.626.555đồng, không chấp nhận yêu cầu trả tiền lãi chậm trả. Nếu bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền đề nghị cơ quant hi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đối với 71,7m² đất ở thuộc thửa đất số 308, tờ bản đồ số 6, thôn N, phường Y, quận H. Khi phát mại tài sản thế chấp ngân hàng phải hoàn trả giá trị tài sản trên đất cho ông Nguyễn Bá V.
Đề nghị rút kinh nghiệm với cấp sơ thẩm về việc xác định đưa đủ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng.
Ngân hàng không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố tụng:
- Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của Ngân hàng T1 làm và nộp trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận.
- Về thẩm quyền: Tòa án nhân dân quận Hà Đông giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về nội dung:
[1]. Xét Hợp đồng tín dụng số 0146/HĐ TD-GPBTLG/11 ngày 29/4/2011 được ký kết trên cơ sở tự nguyện, bảo đảm về điều kiện chủ thể, nội dung hợp đồng không trái với quy định của pháp luật nên có hiệu lực thi hành đối với các bên tham gia. Thực hiện hợp đồng tín dụng, G đã giải ngân cho bị đơn vay theo Khế ước nhận nợ số LD 1111900004 ngày 29/4/2011 với số tiền 1.900.000.000đồng.
Căn cứ bảng kê tính lãi do ngân hàng X (Bút lục 301), ông C2, bà H3 đã trả được 415.000.000đồng nợ gốc. Số tiền nợ gốc ông C2, bà H3 còn phải thanh toán trả cho ngân hàng là 1.485.000.000đồng. Bản án sơ thẩm buộc bị đơn thanh toán khoản nợ gốc 1.485.000.000đồng là có căn cứ.
[2]. Về lãi trong hạn, lãi quá hạn:
Tại mục 2 Khế ước nhận nợ số LD 1111900004 (Bút lục 54) các bên thỏa thuận: "Lãi suất cho vay: Áp dụng lãi suất thả nổi, thay đổi 01 tháng/01 lần vào ngày 10 hàng tháng. Lãi suất kỳ đầu tiên là 25%/năm. Lãi suất cho vay các kỳ tiếp theo tại thời điểm điều chỉnh được xác định bằng lãi suất huy động tiết kiệm VNĐ của GP.Ban K 12 tháng trả lãi cuối kỳ cộng biên độ tại thời điểm điều chỉnh". Đối chiếu bảng kê tính lãi do ngân hàng xuất trình, G đã thực hiện điều chỉnh lãi suất trong hạn phù hợp với thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ theo đó mức lãi suất trong hạn G áp dụng được giảm từ 25%/năm xuống 24%/năm, 22,5%/năm.
Bản án sơ thẩm nhận định mức lãi suất trong hạn G áp dụng là cao so với Thông tư số 02/2011/TT-NHNN ngày 03/3/2011, Thông tư số 30/2011/TT-NHNN ngày 28/9/2011 của Ngân hàng N4. Tuy nhiên mức lãi suất được quy định trong các văn bản trên được áp dụng đối với các hình thức huy động vốn (lãi suất tiền gửi; lãi suất chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và trái phiếu), tiền gửi (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu); hoàn toàn khác với hình thức cho vay giữa G và ông C2, bà H3 theo Hợp đồng tín dụng số 0146/HĐTD-GPBTLG/11 ngày 29/4/2011. Bản án sơ thẩm buộc ông C2, bà H3 thanh toán nợ lãi trong hạn tính đến ngày 16/11/2023 là 40.425.917đồng là hoàn toàn phù hợp.
Về lãi quá hạn:
Như vậy, các bên đã thỏa thuận lãi suất trong hạn điều chỉnh nên kể từ thời điểm khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn thì lãi suất quá hạn phải được điều chỉnh phù hợp với lãi suất trong hạn được điều chỉnh theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ. Tuy nhiên bảng kê tính lãi của ngân hàng thể hiện G áp dụng mức lãi suất quá hạn cố định từ thời điểm khoản vay của ông C2, bà H3 chuyển sang nợ quá hạn là không phù hợp với thỏa thuận của các bên theo hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ. Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn chỉ xuất trình các quyết định về việc điều chỉnh lãi suất từ năm 2011 đến 2012. Tuy nhiên Tòa án cấp phúc thẩm đã yêu cầu Ngân hàng cung cấp các quyết định việc việc điều chỉnh lãi suất nên mức lãi suất trong hạn được giảm, dẫn đến lãi suất quá hạn cũng được giảm theo các năm có bản chi tiết kèm theo đã được Hội đồng xét xử tính đến ngày xét xử sơ thẩm nợ gốc là 1.485.000.000 đồng; lãi trong hạn 40.425.917 đồng; lãi quá hạn là 3.322.200.638 đồng. Tổng khoản nợ là 4.847.626.555 đồng
[3]. Đối với yêu cầu về lãi chậm trả: Căn cứ khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP đối với hợp đồng tín dụng được xác lập trước ngày 01/01/2017 thì các khoản tiền lãi gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn. Tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định: "Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật". Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về lãi chậm trả là không có căn cứ chấp nhận
Bản án sơ thẩm buộc G phải hoàn trả số tiền lãi chậm trả bị đơn đã trả 29.009.430đồng và được đối trừ vào nghĩa vụ trả nợ của bị đơn là có căn cứ.
[4]. Xét Hợp đồng thế chấp: Đảm bảo cho khoản vay của ông C2, bà H3 tại G thì hộ ông Nguyễn Bá C gồm có ông C, bà Nguyễn Thị H3, chị Nguyễn Thị Thúy N1 đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 27/4/2011, theo đó bên thế chấp đã thế chấp toàn bộ quyền sử dụng hợp pháp khu đất có diện tích 71,7m² đất ở tại thửa đất số 308, tờ bản đồ số 6, địa chỉ: thôn N, xã Y, huyện H, tỉnh Hà Tây cũ (nay là phường Y, quận H, thành phố Hà Nội) theo GCNQSDĐ số S 691478 do UBND huyện H cấp ngày 11/9/2003 cho hộ gia đình ông C. Ngoài quyền sử dụng đất, bên thế chấp còn tự nguyện thế chấp: "Nếu tài sản thế chấp bao gồm quyền sử dụng đất thì mọi tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp".
Ngày 16/8/2022, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp. Tại Biên bản xem xét thẩm định tài sản và sơ đồ nhà đất do Công ty TNHH T3 đo đạc thể hiện trên đất có 01 phần nhà 02 tầng 01 tum. Ông C trình bày 01 phần nhà 02 tầng này do ông V (anh trai ông C) quản lý, sử dụng. Ngoài ra trên đất có vợ chồng ông V, bà Nguyễn Thị H4 đang sinh sống.
Theo GCNQSDĐ số S 691478 do UBND huyện H cấp ngày 11/9/2003 thì giáp thửa đất số 308, tờ bản đồ số 6, diện tích 71,7m² là đất của ông V (anh trai ông C) Kết quả đo đạc do Công ty TNHH T3 thực hiện đo vẽ thực tế và lồng kích thước, hình thể của thửa đất số 308, tờ bản đồ số 6 theo GCNQSDĐ số S 691478 có sự khác biệt về thực tế sử dụng và ranh giới vị trí thửa đất.
Theo Bản án sơ thẩm nhận định tại Báo cáo thẩm định của Ngân hàng ngày 02/4/2011 tại thời điểm nhận thế chấp tài sản mô tả hiện trạng sử dụng tài sản không có công trình xây dựng là không phản ánh đúng nội dung của báo cáo thẩm định và trong báo cáo thẩm định không có nội dung nào liên quan đến tài sản trên đất. Theo đơn yêu cầu đăng ký thế chấp của hộ gia đình ông C mục mô tả tài sản thế chấp thể hiện chưa có nhà; Tại Biên bản định giá tài sản bảo đảm tiền vay tại mục 4 hiện trạng sử dụng đất thể hiện hộ gia đình ông C chưa xây dựng gì. Việc này đã được thành viên hộ gia đình ông C đều ký xác nhận tại các biên bản trên. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào lời khai của ông Nguyễn Bá B, ông Nguyễn Bá V đều có lời khai về việc phần nhà 2 tầng này do ông B bỏ tiền ra xây dựng từ năm 2005 và biên bản xác minh tại địa phương cho rằng nhà ông B xây dựng trước khi thế chấp. Nên xác định Hợp đồng thế chấp là vô hiệu là không có căn cứ.
Hội đồng xét xử nhận định: Hợp đồng thế chấp được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, có mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật; không trái đạo đức xã hội, tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp, đã đăng ký giao dịch bảo đảm nên hợp đồng thế chấp có giá trị áp dụng đối với các bên tham gia ký hợp đồng. Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho G thì G được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành phát mại tài sản bảo đảm là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 308, tờ bản đồ số 6, địa chỉ: thôn N, xã Y, huyện H, tỉnh Hà Tây cũ (nay là phường Y, quận H, thành phố Hà Nội) theo GCNQSDĐ số S 691478 do UBND huyện H cấp ngày 11/9/2003 và phải có trách nhiệm thanh toán lại giá trị tài sản trên diện tích đất đã đã được thế chấp cho ông Nguyễn Bá B. Ưu tiên quyền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Bá B theo Án lệ 11/2017. Ngân hàng có quyền xây ngăn diện tích đất, nhà sau khi thanh toán giá trị tài sản trên đất cho ông B.
Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi hộ gia đình, thực tế khi thế chấp năm 2011 các con ông C còn nhỏ chưa đủ 18 tuổi, không có công sức đóng góp gì đối với tài sản thế chấp, theo hồ sơ thế chấp thể hiện chị N1 con ông C đã tham gia ký hợp đồng thế chấp, cấp sơ thẩm không đưa chị Nguyễn Thị Thúy N1 và chị Nguyễn Thị Hằng N3 là con của ông C vào tham gia tố tụng là có thiếu sót, tuy nhiên việc không đưa chị N1 và chị N3 vào tham gia tố tụng cũng không làm thay đổi nội dung vụ kiện nên cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Từ những nhận định trên.
Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
QUYẾT ĐỊNH
Sửa bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 72/2023/KDTM-ST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông.
- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng T1 (GP.Ban K) đối với ông Nguyễn Bá C và bà Nguyễn Thị H3 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng (ngắn hạn) số 0146/HĐTD-GPBTLG/11 ngày 29/4/2011.
- + Số tiền nợ gốc: 1.485.000.000 đồng.
- + Số tiền nợ lãi trong hạn: 40.425.917 đồng.
- + Số tiền nợ lãi quá hạn: 3.322.200.638 đồng.
- Trường hợp Ông Nguyễn Bá C và bà Nguyễn Thị H3 không trả được nợ thì Ngân hàng GP.Ban K có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 308, tờ bản đồ số 6, địa chỉ: thôn N, xã Y, huyện H, tỉnh Hà Tây cũ (nay là phường Y, quận H, thành phố Hà Nội) theo GCNQSDĐ số S691478 do UBND huyện H cấp ngày 11/9/2003 cho hộ ông Nguyễn Bá C, theo hợp đồng thế chấp số Công chứng 01232 11/HĐTC ngày 27/04/2011 tại Văn phòng C3.
- Về án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Bá C và bà Nguyễn Thị H3 phải chịu án phí sơ thẩm số tiền 112.847.627đồng.
- Về chi phí tố tụng: Ngân hàng T1 phải chịu chi phí tố tụng.
- Về án phí phúc thẩm: Ngân hàng T1 không phải chịu án phí.
- Buộc ông C bà H3 phải thanh toán cho Ngân hàng G2.Ban K tổng số tiền tính đến ngày 16/11/2023 là: 4.847.626.555 đồng, trong đó:
Ông C bà H3 được đối trừ số tiền 29.009.430 đồng do Ngân hàng đã thu tiền lãi chậm trả. Nên ông C bà H3 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền 4.818.617.125 đồng trong đó nợ gốc 1.485.000.000đồng, nợ lãi trong hạn 40.425.917đồng, nợ lãi quá hạn 3.293.191.208đồng.
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm ông C bà H3 còn phải tiếp tục chịu lãi suất đối với khoản nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký kết nhưng phải phù hợp với Luật Các tố chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi suất áp dụng cho hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi trả nợ xong số tiền nợ gốc.
Ngân hàng có trách nhiệm thanh toán lại giá trị tài sản trên diện tích đất đã được thế chấp cho ông Nguyễn Bá B và có quyền xây tường ngăn đối với phần tài sản đã được thế chấp sau khi có trách nhiệm thanh toán giá trị tài sản cho ông B trên diện tích đất đã được thế chấp.
Ngân hàng T1 phải nộp 91.900.776 đồng, đối với yêu cầu tiền lãi quá hạn không được chấp nhận. Được trừ vào số tiền 56.000.000 đồng, đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008027 ngày 01/8/2019 và số tiền 2.000.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014713 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông. Ngân hàng T1 còn phải nộp tiếp số tiền là 33.900.776 đồng.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị M1 |
Bản án số 139/2024/KDTM-PT ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 139/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
