|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 139/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10-9-2024
V/v Tuyên bố không công nhận
quan hệ vợ chồng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ
- Bà Mai Thị Thu Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 220/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 246/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 232/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1983;
Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
-
Bị đơn: Nguyễn Hồng L, sinh năm 1982;
Địa chỉ: ấp H, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 07/6/2024, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
- Về hôn nhân: bà và ông Nguyễn Hồng L sống chung như vợ chồng, không tổ chức đám cưới, không đăng ký kết hôn. Bà và ông Nguyễn Hồng L sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, bà không còn tình cảm với ông Nguyễn Hồng L nên yêu cầu được ly hôn ông Nguyễn Hồng L.
- Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 26/7/2001 và Nguyễn Văn H, sinh ngày 05/01/2010. Cháu K đã thành niên, bà T yêu cầu được nuôi cháu H, không yêu cầu ông L cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
* Tòa án đã triệu tập bị đơn ông Nguyễn Hồng L nhưng ông Nguyễn Hồng L vắng mặt không có lý do, đồng thời không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại tờ tự khai ngày 31/7/2024 cháu Nguyễn Văn H trình bày nguyện vọng được sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn.
* Tại phiên tòa:
- Bà Nguyễn Thị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và không có văn bản thay đổi yêu cầu khởi kiện.
- Ông Nguyễn Hồng L vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1 Quan hệ tranh chấp: bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Hồng L sống chung như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Hồng L nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 14, Điều 51, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Hồng L là: tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng.
1.2 Thẩm quyền giải quyết: Tại phiếu xác nhận thông tin cư trú ngày 15/5/2024 Công an xã V, huyện C, tỉnh An Giang xác định ông Nguyễn Hồng L đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp H, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
1.3 Về sự có mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Hồng L đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Hồng L chung sống với nhau như vợ chồng, không tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết hôn, sau khi sống chung như vợ chồng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Từ năm 2023 bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Hồng L không còn sống chung với nhau. Bà Nguyễn Thị T trình bày không còn tình cảm với ông Nguyễn Hồng L nên yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Hồng L. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 14, Điều 51 và Điều 53 Luật hôn nhân gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Hồng L.
2.2 Về con chung: bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Hồng L có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 26/7/2001 và Nguyễn Văn H, sinh ngày 05/01/2010. Hiện cháu K đã thành niên còn cháu H có nguyện vọng được sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T được quyền nuôi con chung tên Nguyễn Văn H.
2.3 Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị T không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng của ông Nguyễn Hồng L.
2.4 Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
[3] Về án phí sơ thẩm: bà Nguyễn Thị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14, Điều 51, Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
- Tuyên bố: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Hồng L.
-
Về con chung: Bà Nguyễn Thị T được quyền nuôi con chung tên Nguyễn Văn H, sinh ngày 05/01/2010.
Ông Nguyễn Hồng L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí sơ thẩm: bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004759 ngày 08/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Quyền kháng cáo: bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Hồng L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Hữu Phúc |
Bản án số 139/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 139/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
