|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 139/2024/HNGĐ-ST Ngày 09 – 8 – 2024 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đại Minh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Tuyết Nhung
2. Bà Nguyễn Thị Tú Oanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Việt Bắc - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 423/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 97/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lương Thị Thanh T, sinh năm 1993 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Ông Trà Văn N, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số E V, tổ dân phố A, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lương Thị Thanh T trình bày:
Tôi và ông Trà Văn N tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn ngày 12/7/2022 tại UBND phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống vợ chồng tôi sống hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung với nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã nhau, chồng tôi không cố gắng làm ăn kinh tế, không có chính kiến nên mâu thuẫn ngày càng căng thẳng. Chúng tôi đã sống ly thân từ tháng 5/2023 cho đến nay. Nay tôi xác định không còn tình cảm với ông Trà Văn N nữa nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Trà Văn N.
Về con chung: Tôi và ông Trà Văn N không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trà Văn N trình bày:
Tôi với bà Lương Thị Thanh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn vào ngày 12/7/2022 tại UBND phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống vợ chồng tôi hạnh phúc nhưng đến tháng 5 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung với nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng, nếu có tiếp tục chung sống với nhau thì cũng không có hạnh phúc. Chúng tôi đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 cho đến nay. Nay bà Lương Thị Thanh T làm đơn xin ly hôn thì tôi có nguyện vọng xin Tòa án thêm thời gian 01 tháng để suy nghĩ thêm về quan hệ hôn nhân.
Về con chung: Tôi và bà Lương Thị Thanh T không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thông báo thụ lý vụ án đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 98; các Điều 171 đến Điều 177; Điều 220 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Lương Thị Thanh T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị Thanh T được ly hôn với ông Trà Văn N.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: Bà Lương Thị Thanh T phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Lương Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trà Văn N, đây là quan hệ “Tranh chấp ly hôn”. Bị đơn có địa chỉ tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho các đương sự, quá trình làm việc các đương sự không hòa giải được với nhau, vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Tại phiên toà bị đơn ông Trà Văn N vắng mặt nhưng đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, do vậy Toà án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[3] Về các yêu cầu của đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị Thanh T và ông Trà Văn N đăng ký kết hôn tại UBND phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 12/7/2022, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Bà Lương Thị Thanh T xác định vợ chồng hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung với nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã nhau, ông Trà Văn N không cố gắng làm ăn kinh tế, không có chính kiến nên mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, ông bà đã sống ly thân từ tháng 5/2023 cho đến nay. Bà không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông Trà Văn N.
Ông Trà Văn N xác định vợ chồng hạnh phúc đến tháng 5/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung với nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng, nếu có tiếp tục chung sống với nhau thì cũng không có hạnh phúc, đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 cho đến nay. Nay bà Lương Thị Thanh T làm đơn xin ly hôn thì ông có nguyện vọng xin Tòa án thêm thời gian 01 tháng để suy nghĩ thêm về quan hệ hôn nhân.
Kết quả xác minh tại địa phương xác định: Quá trình chung sống bà Lương Thị Thanh T và ông Trà Văn N phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, đã sống ly thân từ tháng 5/2023 cho đến nay.
Hội đồng xét xử xét thấy, thực tế mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà Lương Thị Thanh T và ông Trà Văn N có xảy ra, mâu thuẫn đã trầm trọng và kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, ông bà đã sống ly thân nhau từ năm 5/2023 cho tới nay. Bà Lương Thị Thanh T đã cương quyết xin ly hôn với ông Trà Văn N, vì vậy nếu kéo dài quan hệ hôn nhân thì không đạt được mục đích của hôn nhân. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lương Thị Thanh T, giải quyết cho bà Lương Thị Thanh T được ly hôn với ông Trà Văn N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Bà Lương Thị Thanh T và ông Trà Văn N không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lương Thị Thanh T và ông Trà Văn N không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Bà Lương Thị Thanh T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Lương Thị Thanh T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị Thanh T được ly hôn với ông Trà Văn N.
- Về con chung: Bà Lương Thị Thanh T và ông Trà Văn N không có, không yêu cầu nên không giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lương Thị Thanh T và ông Trà Văn N không có, không yêu cầu nên không giải quyết.
- Về án phí: Bà Lương Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0009983 ngày 03/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đại Minh |
Bản án số 139/2024/HNGĐ-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 139/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
