|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 139/2024/HS-ST Ngày 09/8/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Mão.
Ông Hồ Bá Võ.
Ông Mai Huy Viện.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hoàng, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:
Ông Lê Hữu Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 09/8/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2024/TLST-HS ngày 04/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2024/QĐXXST-HS ngày 22/7/2024, đối với các bị cáo:
-
Họ tên: Hồ Ngọc S; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 14 tháng 01 năm 1986, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm C, xã H, huyện H, Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Ngọc B; Sinh năm 1962; con bà Nguyễn Thị H (đã chết); Vợ, con: Chưa có; Anh chị em ruột: Gia đình có 03 người, (bị cáo là con thứ nhất);
Tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 25/01/2016, Hồ Ngọc S bị Toà án nhân dân TP Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 04 (bốn) tháng tù phạm tội đánh bạc tại Bản án số 16/2016/HSST ngày 25/01/2016. Ngày 02/02/2016 Hồ Ngọc S kháng cáo xin hưởng án treo. Tại bản án số 81/2016/HSPT ngày 13/5/2016 của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An Quyết định không chấp nhận kháng cáo của Hồ Ngọc S, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Buộc Hồ Ngọc S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, phúc thẩm. Ngày 01/12/2016, Hồ Ngọc S chấp hành xong hình phạt 04 tháng tù; Ngày 04/6/2016, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm. Hồ Ngọc S chưa chấp hành án phí hình sự phúc thẩm.
Nhân thân: Năm 2010, bị Công an xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp giáo dục tại, xã phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N từ ngày 07/7/2023 cho đến nay. Có mặt.
-
Họ tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không;sinh ngày 13 tháng 9 năm 1994, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm C, xã H, huyện H, Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1962; con bà Trần Thị H1, (đã chết); Vợ, con: Chưa có. Anh chị em ruột: Gia đình có 03 người, (bị cáo là con thứ ba); Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Năm 2008 bị Công an phường C, TP V, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính với hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “tẩy, xoá số lô, số đề để nhận thưởng”; Năm 2016 bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) về hành vi “Đánh bạc”. Đã chấp hành xong; Năm 2021 bị UBND quận L, TP Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đã chấp hành xong;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N từ ngày 05/7/2023 cho đến nay. Có mặt.
-
Họ tên: Nguyễn Việt C; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 24 tháng 2 năm 1999, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm C, xã H, huyện H, Nghệ An;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Khắc Đ (đã chết); con bà: Nguyễn Thị H2; sinh năm 1972; Vợ, con: Chưa có; Anh chị em ruột: Gia đình có 02 người, (bị cáo là con thứ hai); Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
-
Họ tên: Nguyễn Thế V; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 04 tháng 7 năm 2001, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm C, xã H, huyện H, Nghệ An;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến Đ1, sinh năm 1970; con bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa có; Anh chị em ruột: Gia đình có 03 người, (bị cáo là con thứ hai); Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Người bị hại: Nguyễn Xuân H3 – Đã chết.
Đại diện hợp pháp của người bị hại:
- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1979. Nơi cư trú: xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bà Hoàng Thị P, sinh năm 1955; ông Nguyễn Trọng S1, sinh năm 1954. Đều trú tại: xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Ông Nguyễn Trọng S1, bà Hoàng Thị P ủy quyền cho chị Nguyễn Thị L.
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1996. Nơi cư trú: xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người bào chữa cho các bị cáo:
- Bà Lê Thị Kim S2 – Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh N. Bào chữa cho bị cáo Hồ Ngọc S. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Bích H4 – Công ty L2, Đoàn luật sư tỉnh N. Bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 08/5/2023, Hồ Ngọc S cùng với Nguyễn Văn T đến quán M1 của chị Huỳnh Thị N và chị Huỳnh Thị N1 ở eo núi H (thuộc địa phận xóm A, xã C, huyện H, tỉnh Nghệ An) để uống bia. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, anh Nguyễn Xuân H3, sinh năm 1980 và anh Nguyễn Trọng T2, sinh năm 1973 (cùng trú tại xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An) và anh Lê Xuân G, sinh năm 1992, (trú tại phường P, thành phố T, TP Hồ Chí Minh) đi xe ôtô BKS 37A-431.64 (xe của anh H3) đến quán M1 để uống cà phê. Trong lúc ngồi uống bia, Nguyễn Văn T nhìn sang và nói với nhóm bạn anh H3 là “nhìn đểu chi rứa bây” thì anh T2 trả lời “không có chi mô chú à”. Một lúc sau, anh Nguyễn Trọng H5 và anh Nguyễn Trọng K1 là bạn của nhóm anh H3 (cùng trú tại xóm P, xã H, huyện H) cùng đi đến quán của Minh A. Khi anh H5, anh K1 đi đến thì anh G cầm điếu cày, anh H3 cầm ghế nhựa đi lại đánh T. Hồ Ngọc S chạy lại ôm anh G để can ngăn thì bị anh G dùng điếu cày đánh trúng vào đầu và tay nên S, T bỏ chạy ra khỏi quán. Chị Huỳnh Thị N thấy xẩy ra đánh nhau nên đóng quán và không bán hàng nữa. Sau đó, anh Bạch Hưng T3, anh Bạch Hưng P1, anh Phạm Hữu T4, anh Bạch Hưng T5 (đều trú tại xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An) cũng đi đến quán M1 và gặp anh H3, anh T2, anh K1, anh H5. Qua nói chuyện biết sự việc vừa xảy đánh nhau nên mọi người khuyên anh G, anh H3 đi về. Anh G đi về, còn anh H3 do say rượu nên không chịu đi về và tiếp tục ở lại quán cùng nhóm bạn.
Sau khi bỏ chạy, Hồ Ngọc S gọi điện thoại cho Nguyễn Thế V, Nguyễn Việt C, Nguyễn Văn T6, sinh năm 1989; Nguyễn Văn T lấy điện thoại của S gọi điện cho Nguyễn Văn H6, sinh năm 1972 (đều trú xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An) nói về việc Sao, T bị đánh ở quán M1 đang chạy bộ về và nhờ đến đón. Khi gọi điện thoại cho V, S nói “về nhà anh lấy cái đồ (hung khí) bên tủ lạnh” thì V đồng ý và nói “chờ em tý”. Lúc này C và V đang ngồi với nhau nên khi nghe điện thoại của S, V kể lại cho C việc S bị đánh và gọi điện thoại cho Nguyễn Thế Q nói “về đây xóm nhờ tý việc”, rồi V đi một mình đến nhà S lấy 02 (hai) con dao tự chế bằng sắt hộp vuông, đầu hàn mũi nhọn dài khoảng 1,5 mét (thường gọi là dao phóng lợn). Sau đó, V đi đến nhà C, thấy C đang thay quần áo nên đi ra đứng trước cổng chờ.
Cùng lúc này, Sao và T được H6 với T6 đi hai xe máy đến đón, chở về nhà S. Khi đi qua khu vực nhà C, Sao thấy V nên gọi “ê, lại đây”, V cầm theo 02 (hai) con dao tự chế đã lấy ở nhà Sao, rồi điều khiển xe máy đi theo đến nhà Sao thì có điện thoại của Q gọi đến. V dừng xe máy lại nghe điện thoại và chờ Q đến rồi cùng đi đến nhà S. Sau khi C thay quần áo xong, mang theo 01 (một) con dao lỡ (dài 37cm, mũi dao bằng), điều khiển xe máy cùng đi đến nhà Sao. Khi về đến nhà, S cùng với T đi vào nhà để tìm “đồ” (hung khí) nhưng chỉ tìm được một con dao nhật (dài khoảng 50-60cm, mũi dao nhọn). Sao cầm con dao rồi cùng với T đi ra gặp H6, T6, V, Q và C. V đưa 01 (một) con dao tự chế cho S cầm, còn V cầm 01 (một) dao tự chế còn lại. Nguyễn Văn T thấy ai cũng có “đồ” (hung khí) mà mình không có nên T nói “ai cũng có đồ mà tao không có à” và T nói với Sao “đưa đây cho em”. Sao đưa con dao tự chế V đưa trước đó cho T cầm.
Do trước đó S và T bị đánh phải bỏ chạy nên xe máy của S và điện thoại của T đang còn ở tại quán M1 nên S nói với cả nhóm “giờ nhờ mấy anh em hỗ trợ lên lấy xe máy và điện thoại về”. Nguyễn Văn H6 đi xe máy chở T và trên xe máy của H6 có dắt 01 (một) con dao thái (dài khoảng 20cm), còn T6 điều khiển xe máy chở S, V cùng với C, Q mỗi người đi một xe máy đi theo đường ven núi để đi đến quán M1. Trên đường đi cả nhóm không trao đổi hay bàn bạc gì.
Đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, khi cả nhóm đi đến đoạn dưới chân cầu vượt đang thi công (phía dưới dốc eo núi H, xã H) và cách quán M1 khoảng 250 mét thì Nguyễn Văn H6 đã dừng xe máy lại không đi tiếp nữa nên cả nhóm cũng dừng lại. Lúc đó có chị Huỳnh Thị N1 (chủ quán) đi xe máy đến, dừng lại gặp S nói “quân nở đông lắm, khoảng 20 người đang đòi phá quán, khoan đã sang”, rồi đi về quán M1. Lúc này, T nói với H6 “việc của con, chú chở con đến đây thôi, chú không cần tham gia đâu”. Sao lấy điện thoại để gọi thêm người thì T ngăn cản và nói với S “việc của anh em mình thì anh em mình giải quyết thôi, không gọi đông người làm chi cả, sang chém chết mẹ hắn đi rồi lấy xe với điện thoại về”. Nghe thấy bên kia đông người nên mọi người bàn tán và không muốn đi tiếp đến quán M1. Thấy vậy, T nói “bây có đi không, sợ chi quân nở, bây nhát địt không dám đi thì mai sang vác xác choa về”.
Sau đó, Nguyễn Văn T cầm con dao tự chế và lấy thêm con dao thái đang dắt ở giá xe máy của H6, còn S cầm con dao nhật, hai người đi bộ trước qua dốc eo núi H để sang quán M1. Khi S, T đi được một đoạn thì lần lượt C cầm con dao lỡ, V cầm con dao tự chế, T6 và Q cũng đi theo sau cùng lên trên đỉnh dốc eo H, còn H6 thì đứng lại đoạn dưới chân cầu vượt, không đi tiếp. Khi lên đến trên đỉnh dốc eo núi H, (cách quán M1 khoảng 180 mét) Tiệp, Q đứng lại, còn S, T, C, V tiếp tục đi xuống dốc. Khi đi từ trên đỉnh dốc đi xuống quán M1, Sao và Thế đi xuống trước, còn C và V lần lượt đi bộ theo phía sau cách một đoạn. Khi đang đi xuống dốc, V và C thấy trước quán M1 có đông người đang đứng nên Vũ đứng lại cách (quán khoảng 130 mét), C đứng lại (cách quán khoảng 80 mét) và không tiếp tục đi theo Sao, T.
Khi V, C đứng lại, S và T vẫn tiếp tục đi đến quán M1. Do trời tối, anh Bạch Hưng T3 đi từ quán M1 đi về và dọi đèn pin thấy S, T cầm theo hung khí tiến đến quán Minh A nên hét to “có hai người cầm dao, kiếm đến đó chạy đi” và bỏ chạy. Anh Bạch Hưng P1 cũng nhìn thấy S và T nên hô lên “quân nở đến rồi, chạy đỉ” và bỏ chạy. Nghe tiếng anh T3 và anh P1 hô thì anh Nguyễn Trọng T2 cũng bỏ chạy. Lúc này, trước quán M1 chỉ còn lại Nguyễn Trọng H5, Nguyễn Trọng K1, Phạm Hữu T4, Bạch Hưng T5 và anh H3. Nguyễn Trọng H5 chạy vào phía trong quán M1 để lấy dao để ra đánh nhau nhưng bị chị N1 và chị N ngăn lại không cho vào. Trong lúc giằng co, chị N1 đã dùng thanh sắt đánh vào trán của H5, làm rách da chảy máu, rồi đóng cửa quán lại. Do không lấy được dao, bị đánh chảy máu nên H5 dùng tay xô đổ khay đựng cốc và dùng chân đạp bổ quạt hơi nước rồi bỏ chạy. Sao và T cầm hung khí chạy đến, nói “bay bản lĩnh ra đây” rồi cầm dao lao vào phía K1, T5, T4 nên cả 3 người đứng lùi lại phía sau xe ô tô BKS 37A – 431.64 (xe của anh H3) đang đậu ngay trước quán, vừa cầm đá ném về phía Sao, T, vừa bỏ chạy. T cầm dao đuổi theo để chém K1, T5 và T4 nhưng không đuổi kịp nên quay lại quán M1. Lúc này, S cầm con dao nhật chạy vào và thấy anh H3 đang đứng trong sân quán M1. Thấy S cầm dao chạy vào, anh H3 chạy lại ôm giằng co nhau với S nên S đã dùng con dao nhật đâm nhiều nhát trúng vào đùi phải và đùi trái của anh H3. Bị đâm, anh H3 vùng ra bỏ chạy, ngã ngoài bãi cỏ trước cổng quán. Còn Nguyễn Văn T, sau khi đuổi theo K1, T5, T4 nhưng không kịp, T cầm dao quay lại và đi vào trong sân quán M1 thì thấy anh H3 chạy ra từ trong quán Minh A ra. Sao cầm dao đi ra phía ngoài đường một đoạn thì gặp C và sau đó gặp là V. Do Sao không thấy T đi về nên S gọi “T ơi về”. T trả lời “để em tìm dép và điện thoại đã”. Sao, C và V đi trước đến bên kia dốc eo núi H đứng chờ T.
Lúc này, chị Huỳnh Thị N1 mở cửa cùng T đi tìm dép nhưng không thấy, T hỏi chị N1 “có thấy điện thoại của anh không” thì chị N1 trả lời “cất trong phòng' và lấy ra đưa cho T. Nguyễn Văn T đi về bên kia dốc eo núi H thì gặp S, C, V, T6, H6, Q, rồi cả nhóm cùng đi về. V điều khiển xe máy chở S, H6 điều khiển xe máy chở T, còn C, Q, T6 mỗi người đi một xe máy cùng đi về cầu rú thuộc xóm C, xã H. Khi về đến Cầu rú, Sao có nói cho T, V, C, T6, Q và Hiểu biết “ Sao đâm bên kia mấy phát vào đùi”. Cũng tại Cầu rú, V đã ném con dao tự chế mình mang theo xuống kênh Cầu rú, Sao để con dao nhật đã dùng đâm anh H3 trước đó trên yên xe máy của V. Thấy con dao nhật, Vũ nghĩ đây là con dao dùng để đánh nhau nên cầm ném xuống kênh và T cũng ném con dao tự chế của mình xuống mép bờ kênh Cầu rú. Thấy vậy, C cầm con dao tự chế của T vừa quăng cũng ném xuống kênh Cầu rú.
Đến khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày, S mượn xe máy Honda Wave BKS 37N1 – 663.51 của C và cùng với T về nhà lấy quần áo sau đó bỏ trốn. C đem con dao của mình đi về nhà và cất dưới chiếu nơi giường ngủ.
Hậu quả: Sau khi anh Nguyễn Xuân H3 bị đâm và bị thương nặng, được mọi người phát hiện, đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N nhưng đã tử vong vào lúc 23 giờ cùng ngày.
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội Hồ Ngọc S, Nguyễn Văn T bỏ trốn, Nguyễn Thế V và Nguyễn Việt C khai báo không thành khẩn dẫn đến gây khó khăn cho hoạt động điều tra và truy tìm vật chứng. Đến ngày 05/7 và ngày 07/7/2023 Nguyễn Văn T, Hồ Ngọc S đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh N xin đầu thú. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Hồ Ngọc S, Nguyễn Văn T, Nguyễn Việt C và Nguyễn Thế V thừa nhận hành vi phạm tội.
Tại Kết luận giám định tử thi số 122/KLGĐTT-KTHS(GĐ-PY) ngày 17/5/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh N kết luận nguyên nhân chết của anh Nguyễn Xuân H3, sinh năm 1980 trú tại xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An do: “Sốc mất máu cấp do vết thương làm thủng động mạch đùi phải”.
* Tại bản kết luận giám định số: 19/KL-KTHS (Đ2 -SV) ngày 29/5/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu máu tử thi Nguyễn Xuân H3 gửi đến giám định thuộc nhóm máu O; Mẫu máu của Nguyễn Trọng H5 gửi đến giám định thuộc nhóm máu O; Các mẫu chất màu nâu ký hiệu M1, M2, M3,M4, M5 gửi đến giám định đều là máu người, thuộc nhóm máu O; Trên thanh kim loại gửi đến giám định không phát hiện thấy dấu vết máu.
Ngày 20/11/2023, Cơ quan điều tra có Công văn số 4132/CSHS(Đ2) ngày 20/11/2023 gửi phòng KTHS công an tỉnh N, về việc đề nghi biện luận dấu vết trên cơ thể Nguyễn Xuân H3.
Tại Công văn số 51/BL-KTHS (GĐ-PY) ngày 23/11/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh N trả lời về việc biện luận dấu vết trên cơ thể Nguyễn Xuân H3 như sau: 1. Các dấu vết 1.1.4, 1.1.5, 1.1.6, 1.1.9, 1,1,12 (phần khám ngoài) trong Kết luận giám định tử thi số 122/KLGĐTT-KTHS (GĐ-PY), đề ngày 17/5/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh N là do sự tác động qua lại giữa cơ thể với vật tày; 2. Các dấu vết tại mục 1.1.8, 1.1.10, 1.1.11 (phần khám ngoài) trong Kết luận giám định tử thi số 122/KLGĐTT-KTHS (GĐ-PY), đề ngày 17/5/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh N là do vật sắc nhọn tác động tạo nên; Chiều hướng các vết thương đã được mô tả rõ trong Kết luận giám định tử thi số 122/KLGĐTT-KTHS (GĐ-PY), đề ngày 17/5/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh N; 4. Với nội dung câu hỏi: “các dấu vết tại kết luận giám định tử thi nói trên có thể do cùng một loại hung khí tác động tạo nên không? Hay do nhiều loại hung khí khác nhau tác động tạo nên?. Câu này đã được trả lời tại mục 1 và 2 công văn này; 5. Với nội dung câu hỏi: Nếu Hồ Ngọc S dùng con dao dài khoảng 60cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng dạng Inốc dài khoảng 45cm, loại một lưỡi sắc, lưỡi dao rộng khoảng 4 đến 5m, cán dao bằng gỗ và được bọc inốc ở hai đầu dài khoảng 15cm, mũi dao vuốt nhọn đâm anh Nguyễn Xuân H3 thì có thể tạo nên được dấu vết nào tại Kết luận giám định tử thi nói trên? Chúng tôi trả lời như sau: Do Cơ quan điều tra không cung cấp được con dao có đặc điểm như trên và cũng không mô tả được cụ thể, chi tiết vị trí, tư thế của nạn nhân và đối tượng nên không đủ căn cứ để trả lời câu hỏi này; 6. Dấu vết mục 1.1.11 (phần khám ngoài) trong Kết luận giám định tử thi số 122/KLGĐTT-KTHS (GĐ-PY), đề ngày 17/5/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh N ‘gồm 2 vết thương thông nhau. Một phát đâm có thể tạo hai vết này không? Vết nào có trước?”. Chúng tôi trả lời như sau: Do Cơ quan điều tra không cung cấp được con dao có đặc điểm như trên và cũng không mô tả được cụ thể, chi tiết vị trí, tư thế của nạn nhân và đối tượng nên không đủ căn cứ để trả lời câu hỏi này 7. Nguyên nhân chính gây tử vong cho nạn nhân Nguyễn Xuân H3 là do vết 1.1.8 (phần khám ngoài) trong Kết luận giám định tử thi số 122/KLGĐTT-KTHS (GĐ-PY), đề ngày 17/5/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh N gây nên.
Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) thanh kim loại dài 37,5cm dạng hình hộp, đáy hình vuông có cạnh rộng 2cm, hai đầu thanh kim loại này được hàn gắn 02 (hai) móc kim loại, tại vị trí cách một đầu thanh kim loại này 8cm được gắn 01 (một) đoạn kim loại hình trụ tròn đường kính 2,5cm và dài 4,7cm. Thu giữ khi khám nghiệm hiện trường ngày 09/5/2023; 01 (một) ống tre màu nâu (dạng điếu cày) dài 66cm, đường kính 5cm, một đầu ống tre bị nứt vỡ. Thu giữ khi khám nghiệm hiện trường ngày 09/5/2023; 01 (một) con dao dài 37cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 26cm, mũi dao bằng, cán dao bằng kim loại dài 11cm. Dao do Nguyễn Việt C giao nộp; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 37N1 – 663.51 mang tên chủ sở hữu là anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1996, trú tại xóm C xã H; 04 (bốn) đôi dép thu giữ khi khám nghiệm hiện trường. Các vật chứng nêu trên hiện được bảo quản tại kho vật chứng Công an tỉnh N.
Đối với 03 con dao Sao, T, V đã sử dụng gồm: 01 con dao dài khoảng 50-60cm thường gọi là dao thái Sasimi lưỡi dao bằng kim loại (Inốc) màu trắng sáng, mũi dao nhọn; 02 con dao tự chế (thường gọi là dao phóng lợn) dài khoảng 1,5 mét, cán dao làm bằng kim loại thép hộp vuông, mũi dao nhọn được hàn gắn phía trước do T và V sử dụng. Ngày 08/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tổ chức truy tìm các đồ vật trên tại khu vực cầu K (nơi các đối tượng vứt dao xuống kênh) nhưng không có kết quả do khu vực lòng kênh và hai bên bờ kênh đoạn chảy qua cầu K (Cầu rú) đang được tiến hành nạo vét.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền cho bị hại Nguyễn Xuân H3 là chị Nguyễn Thị L sinh năm 1979 trú tại xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An (vợ anh Nguyễn Xuân H3), có đơn yêu cầu đền bù về dân sự như sau: Tiền mai táng phí là 150.000.000 đồng; T7 cấp dưỡng nuôi hai người con của anh H3 (cháu Nguyễn Trọng H7, sinh năm 2007 và cháu Nguyễn Thị Thùy A1, sinh năm 2017) cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành, số tiền 02 triệu/tháng/1 cháu; cấp dưỡng nuôi mẹ của anh H3 (bà Hoàng Thị P) cho đến khi chết, số tiền 1.000.000 đồng/tháng; về tổn thất tinh thần đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Hồ Ngọc S, Nguyễn Văn T đã tác động gia đình, bạn bè đền bù cho gia đình bị hại Nguyễn Xuân H3 với số tiền là (Sao 35.000.000 đồng, T 20.000.000 đồng). Nguyễn Việt C, Nguyễn Thế V đã tự nguyện hỗ trợ cho gia đình bị hại mỗi người số tiền là 10.000.000 đồng.
Cáo trạng số 142/CT-VKSNA-P2 ngày 04/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố Hồ Ngọc S, Nguyễn Văn T về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự; truy tố Nguyễn Việt C và Nguyễn Thế V về tội “Che dấu tội phạm”, theo điểm b khoản 1 Điều 389 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Ngọc S yêu cầu triệu tập những người tham gia đưa anh Nguyễn Xuân H3 đi cấp cứu để làm rõ nguyên nhân dẫn đến cái chết của anh H3. Lý do, tại Kết luận điều tra vụ án thể hiện: trên đường đưa anh H3 đi cấp cứu, xe ô tô đã do Lê Xuân G đã bị tai nạn, có thể là một phần nguyên nhân dẫn đến cái chết của anh H3.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên cáo trạng và phát biểu quan điểm: việc truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật; căn cứ các tình tiết vụ án; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân các bị cáo, đề nghị xử phạt Hồ Ngọc S mức án 19 – 20 năm tù; Nguyễn Văn T 15 – 16 năm tù; Nguyễn Việt C, Nguyễn Thế V, mỗi bị cáo 7 – 9 tháng tù; về dân sự giải quyết theo quy định pháp luật; về vật chứng: đề nghị tra lại chiếc xe máy cho anh Nguyễn Trung K2, các vật chứng khác tịch thu tiêu hủy.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Người bào chữa cho các bị cáo Hồ Ngọc S, Nguyễn Thế V không tranh luận về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo. Về dân sự, các bị cáo chấp nhận phần bồi thường tiền mai táng phí theo yêu cầu đại diện hợp pháp của bị hại; đối với tiền cấp dưỡng nuôi con và nuôn mẹ anh H3, tiền bồi thường tổn thất tinh thần, đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Nói lời sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi phạm tội của bị cáo.
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo và kết quả tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:
Vào lúc 21 giờ 45 phút ngày 08/5/2023, tại quán M1 thuộc xóm A, xã C, huyện H, tỉnh Nghệ An. Do mâu thuẫn trong lúc ngồi uống bia giữa Nguyễn Văn T, Hồ Ngọc S cùng với nhóm bạn của anh Nguyễn Xuân H3, sinh năm 1980 trú tại xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An dẫn đến Sao và T bị anh Lê Xuân G và anh Nguyễn Xuân H3 dùng điếu cày và ghế nhựa đánh nên cả hai bỏ chạy. Trên đường chạy về nhà, S và T gọi điện cho Nguyễn Thế V, Nguyễn Việt C, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Văn H6 về việc mình bị đánh và nhờ đến đón. Sau đó, V gọi điện cho Nguyễn Tiến Q1. Khi gặp nhau trước cổng nhà S, S nói với mọi người về việc S và T bị đánh bỏ chạy, xe máy và điện thoại đang để ở quán M1 nên giờ nhờ mấy anh em hỗ trợ lên lấy xe máy và điện thoại về. Khi đi sang quán M1, Hồ Ngọc S cầm theo 01 con dao nhật dài khoảng 50-60cm, Nguyễn Văn T cầm theo hai dao (01 con dao tự chế dài khoảng 1,5 mét; 01 con dao thái dài khoảng 20 cm).
Khi S, T, V, C, T6, H6 và Q1 đi đến eo dốc núi H, (cách quán M1 khoảng 250 mét) gặp và nghe chị Huỳnh Thị N1 nói bên kia đông người nên T nói “Sang chém chết mẹ hắn đi rồi lấy xe với điện thoại về”; “bây có đi không, sợ chi quân nở, bây nhát địt không dám đi thì mai sang vác xác choa về” thì T6, H6 và Q1 dừng lại không đi tiếp; V và C đi thêm một đoạn rồi cũng dừng lại, còn S, T tiếp tục đi đến Quán M1.
Lúc này, anh Nguyễn Trọng K1, anh Phạm Hữu T4, anh Bạch Hưng Tài Bạch Hưng T8, Bạch Hưng P1 đang đứng trước quán M1, thấy S và T cầm hung khí xông lên thì nhặt đá vừa ném, vừa bỏ chạy. Thấy vậy, T nói ‘bây bản lĩnh ra đây” rồi cầm dao đuổi theo để chém nhóm bạn anh H3 nhưng không đuổi kịp. Còn Hồ Ngọc S cầm dao chạy vào trong quán Minh A thấy anh H3 ở trong quán, S và anh H3 ôm giằng co nhau, S dùng con dao nhật dài khoảng 50-60cm đâm vào đùi phải và đùi trái của anh H3 ba nhát dẫn đến sốc mất máu cấp do vết thương làm thủng động mạch đùi phải. Hậu quả: Anh Nguyễn Xuân H3 được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N nhưng đã tử vong.
Khi về đến cầu R, Hồ Ngọc S kể cho Nguyễn Văn T, Nguyễn Việt C, Nguyễn Thế V và những người cùng đi biết vừa đâm anh H3 là “đâm bên kia mấy phát vào đùi”. Sau khi nghe, Nguyễn Thế V cầm con dao nhật của S vừa đâm anh H3 đang để trên yên xe máy ném cùng con dao phóng lợn của mình xuống kênh Cầu rú; Nguyễn Việt C thấy con dao phóng lợn của T vứt bên mép kênh cũng cầm lấy ném xuống kênh C, nhằm tiêu hủy vật chứng. Sau đó, C đã cho Hồ Ngọc S và Nguyễn Văn T mượn xe máy của mình để bỏ trốn, gây khó khăn cho hoạt động điều tra và truy tìm vật chứng sau này.
Như vậy, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ của người khác, Hồ Ngọc S và Nguyễn Văn T đã cùng nhau sử dụng dao để tấn công người khác. Trong đó, Nguyễn Văn Thế 1 người hô hào, kích động việc đánh nhau, trực tiếp rượt đuổi nhiều người trong nhóm của anh H3. Hậu quả, Hồ Ngọc S đã dùng dao đâm vào đùi anh H3, hậu quả làm anh H3 tử vong. Các bị cáo đã đồng phạm trong hành vi giết người, hành vi thể hiện sự côn đồ, cố ý tước đoạt tính mạng người khác.
Đối với Nguyễn Việt C và Nguyễn Thế V, khi biết Hồ Ngọc S đã có hành vi dùng dao đâm vào người khác đã có hành vi vứt hung khí gây án, các tang vật khác của vụ án, cho Hồ Ngọc S, Nguyễn Văn T sử dụng phương tiện của mình để bỏ trốn, cụ thể Nguyễn Việt C để xe máy cho Hồ Ngọc S và Nguyễn Văn T bỏ trốn; Nguyễn Thế V đã vứt con dao mà Hồ Ngọc S dùng để đâm anh Nguyễn Xuân H3. Hành vi của Nguyễn Việt C, Nguyễn Thế V đã tạo điều kiện cho các bị cáo S, T bỏ trốn, gây khó khăn cho quá trình điều tra, là hành vi che dấu tội phạm.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố Hồ Ngọc S và Nguyễn Văn T về tội “Giết người”, theo quy định tại điểm n, khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự; Nguyễn Việt C, Nguyễn Thế V về tội “Che dấu tội phạm”, theo quy định tại khoản 1 Điều 389 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[2] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tính chất hành vi phạm tội:
[2.1] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Hồ Ngọc S, Nguyễn Văn T đã tác động gia đình, bạn bè đền bù cho gia đình bị hại Nguyễn Xuân H3 với số tiền là (Sao 35.000.000 đồng, T 20.000.000 đồng), các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự.
Bị cáo Hồ Ngọc S, sau khi phạm tội đã đầu thú; bị cáo từng tham gia quân đội được tặng thưởng Giấy khen nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn T: Sau khi phạm tội đã đầu thú, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Nguyễn Việt C, Nguyễn Thế V, mặc dù không trực tiếp thực hiện hành vi gây ra cái chết cho anh H3 nhưng đã hỗ trợ một phần cho gia đình bị hại; Nguyễn Thế V có thành tích trong công tác đoàn, Nguyễn Việt C từng tham gia quân đội, gia đình các bị cáo có người thân có công với cách mạng, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng: đối với bị cáo Hồ Ngọc S, ngày 25/01/2016, Hồ Ngọc S bị Toà án nhân dân TP Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 04 (bốn) tháng tù phạm tội đánh bạc tại Bản án số 16/2016/HSST ngày 25/01/2016. Ngày 02/02/2016 Hồ Ngọc S kháng cáo xin hưởng án treo. Tại bản án số 81/2016/HSPT ngày 13/5/2016 của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An Quyết định không chấp nhận kháng cáo của Hồ Ngọc S, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Buộc Hồ Ngọc S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, phúc thẩm. Ngày 01/12/2016, Hồ Ngọc S chấp hành xong hình phạt 04 tháng tù; Ngày 04/6/2016, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm. Hồ Ngọc S chưa chấp hành án phí hình sự phúc thẩm. Theo quy định pháp luật, việc chấp hành xong hình phạt bao gồm hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Do chưa chấp hành quyết định bản án về án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo chưa được xóa án tích. Nay lại phạm tội thuộc trường hợp cố ý, vì vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự lần phạm tội này của bị cáo Hồ Ngọc S thuộc trường hợp tái phạm, bị cáo phải chịu tỉnh tiết tăng năng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[2.2] Tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo Hồ Ngọc S, Nguyễn Văn Thế 1 đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, tước đoạt tính mạng của người khác. Để giải quyết một mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống, các bị cáo đã chuẩn bị hung khí là dao để tấn công người khác. Trong đó Hồ Ngọc S là người trực tiếp dùng dao đâm vào người anh H3, hậu quả làm anh H3 tử vong; Nguyễn Văn Thế là người kích động, tích cực thực hiện hành vi tấn công những người khác, thể hiện thái độ coi thường tính mạng của người khác, coi thường pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm.
Đối với các bị cáo Nguyễn Việt C, Nguyễn Thế V đã thực hiện hành vi che dấu tội phạm, gây khó khăn cho công tác điều tra, xử lý tội phạm cần xử phạt nghiêm. Nhưng xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Vì vậy, xem xét xử phạt các bị cáo ở mức khởi điểm khung hình phạt cũng đủ nghiêm.
[3] Về dân sự: căn cứ ý kiến của đại diện hợp pháp và các bị cáo tại phiên tòa, chấp nhận yêu cầu buộc các bị cáo phải bồi thường 150.000.000 đồng tiền chi phí cấp cứu, các chi phí mai táng phí; đối với tiền bồi thường tổn thất tinh thần, buộc các bị cáo bồi thường số tiền tương đương 100 tháng lương cơ sở, tương đương 234.000.000 đồng; đối với tiền cấp dưỡng, chấp nhận yêu cầu buộc các bị cáo cấp dưỡng nuôi hai người con của anh H3 (cháu Nguyễn Trọng H7, sinh năm 2007 và cháu Nguyễn Thị Thùy A1, sinh năm 2017) cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành, số tiền 02 triệu/tháng/1 cháu; cấp dưỡng nuôi mẹ của anh H3 (bà Hoàng Thị P) cho đến khi chết, số tiền 1.000.000 đồng/tháng; về tổn thất tinh thần đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Số tiền gia đình các bị cáo đã bồi thường, được tính trừ trong khoản tiền buộc bồi thường.
Về kỷ phần trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ: căn cứ vào mức độ lỗi của các bị cáo dẫn đến cái chết của anh Nguyễn Xuân H3, buộc Hồ Ngọc S phải chịu 60% nghĩa vụ bồi thường, Nguyễn Thế V bồi thường 40% nghĩa vụ bồi thường.
[4] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với ý kiến của Hồ Ngọc S về nguyên nhân dẫn đến cái chết của anh Nguyễn Xuân H3, tại Kết luận giám định tử thi số kết luận nguyên nhân chết của anh Nguyễn Xuân H3, do: “Sốc mất máu cấp do vết thương làm thủng động mạch đùi phải”. Ý kiến của bị cáo Hồ Ngọc S là không có căn cứ.
Các hoạt động tố tụng khác: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[5] Về vật chứng vụ án: Trả lại cho anh Nguyễn Trung K chiếc xe máy, vì khi Nguyễn Việt C sử dụng, anh K không biết C cho Hồ Ngọc S, Nguyễn Văn T sử dụng để bỏ trốn. Các vật chứng khác đã bị thu giữ không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Hồ Ngọc S, Nguyễn Văn T còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố các bị cáo Hồ Ngọc S, Nguyễn Văn T phạm tội “Giết người”; các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Việt C phạm tội “Che dấu tội phạm”.
-
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Ngọc S – 19 (mười chín) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/7/2023.
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/7/2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 389, điểm s khoản 1, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Việt C 06 (sáu) tháng tù về tội “Che dấu tội phạm. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 389, điểm s khoản 1, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thế V 06 (sáu) tháng tù về tội “Che dấu tội phạm. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
-
Về dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự 2015; Điều 584; 585; 586; 591, 593 Bộ luật dân sự 2015, buộc bị cáo Hồ Ngọc S, Nguyễn Văn T phải bồi thường cho đại diện hợp pháp của người bị hại như sau:
-
[3.1] Tổng số tiền hai bị cáo phải bồi thường, gồm 150.000.000 đồng, tiền chi phí cấp cứu và mai táng phí; 234.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần cho những người thuộc hành thừa kế thứ nhất của anh Nguyễn Xuân H3, gồm: chị Nguyễn Thị L, cháu Nguyễn Trọng H7, cháu Nguyễn Thị Thùy A1, ông Nguyễn Văn S3, bà Hoàng Thị P. Tổng cộng: 384.000.000 đồng (Ba trăm tám mươi tư triệu đồng).
-
[3.2] Nghĩa vụ cấp dưỡng: buộc các bị cáo Hồ Ngọc S, Nguyễn Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng các con của anh H3, gồm: cháu Nguyễn Trọng H7, sinh năm 2007, cháu Nguyễn Thị Thùy A1, sinh năm 2017, số tiền cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng/cháu; thời điểm cấp dưỡng: từ tháng 6/2023 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành; cấp dưỡng nuôi mẹ anh H3 là bà Hoàng Thị P, số tiền 1.000.000 đồng/tháng; thời điểm cấp dưỡng: từ tháng 6/2023 đến khi bà P chết.
-
[3.3] Kỷ phần bồi thường: bị cáo Hồ Ngọc S 60%, nghĩa vụ bồi thường; bị cáo Nguyễn Văn T 40% nghĩa vụ bồi thường.
-
[3.4] Bị cáo Hồ Ngọc S, phải bồi thường cho đại diện hợp pháp của người bị hại số tiền 140.400.000 đồng (234.000.000 * 60%), được trừ số tiền đã bồi thường 35.000.000 đồng, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 105.400.000 đồng (Một trăm linh năm triệu, bốn trăm ngàn đồng).
-
[3.5] Bị cáo Nguyễn Văn T, phải bồi thường cho người bị hại số tiền 93.600.000 đồng (234.000.000 * 40%). được trừ số tiền đã bồi thường 20.000.000 đồng, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 73.600.000 đồng (Bảy mươi ba triệu, sáu trăm ngàn đồng).
-
[3.6] Về số tiền cấp dưỡng hàng tháng:
-
[3.6.1] Buộc bị cáo Hồ Ngọc S cấp dưỡng nuôi các cháu Nguyễn Trọng H7, Nguyễn Thúy A2, số tiền 1.200.000 đồng/1 tháng/1 cháu; cấp dưỡng nuôi bà Hoàng Thị P 600.000 đồng/tháng.
-
[3.6.2] Buộc bị cáo Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi các cháu Nguyễn Trọng H7, Nguyễn Thúy A2, số tiền 600.000 đồng/1 tháng/1 cháu; cấp dưỡng nuôi bà Hoàng Thị P 400.000 đồng/tháng.
-
-
-
Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
Trả lại cho anh Nguyễn Trung K 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 37N1 – 663.51.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thanh kim loại dài 37,5cm dạng hình hộp, đáy hình vuông có cạnh rộng 2cm, hai đầu thanh kim loại này được hàn gắn 02 (hai) móc kim loại, tại vị trí cách một đầu thanh kim loại này 8cm được gắn 01 (một) đoạn kim loại hình trụ tròn đường kính 2,5cm và dài 4,7cm; 01 (một) con dao dài 37cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 26cm, mũi dao bằng, cán dao bằng kim loại dài 11cm; 01 (một) ống tre màu nâu (dạng điếu cày); 04 (bốn) đôi dép đã qua sử dụng.
Đặc điểm các vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/7/2024, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
-
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21, 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Hồ Ngọc S, Nguyễn Văn T, Nguyễn Việt C, Nguyễn Thế V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Hồ Ngọc S phải chịu 5.270.000 đồng (Năm triệu hai trăm bảy mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 3.680.000 đồng (Ba triệu sáu trăm tám mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-
Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Cường |
Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (giết người)
- Số bản án: 139/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ho Ngoc Sao giet nguoi
