|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 139/2024/HS-ST Ngày: 09-7-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Bảo
Bà Trần Thị Mai
- Thư ký phiên toà: Ông Chu Trần Khánh Vinh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Thảo - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 135/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn G; sinh ngày 07 tháng 9 năm 1995; nơi sinh: tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; giới tính: Nam; số căn cước công dân: [...]; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Nguyễn Văn T và bà Đoàn Thị H; vợ: Lê Thị T1; có 02 con; tiền án: Ngày 29-11-2022, bị Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 29-4-2024, chuyển tạm giam từ ngày 05-5-2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Trần Văn H1, sinh năm 2002; trú tại: Xóm S, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Vắng mặt tại phiên toà
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn T2, sinh năm 2000; trú tại: Xóm F, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 40 phút ngày 28-4-2024, Nguyễn Văn G đi bộ từ Bệnh viện nhi tỉnh N sang Bệnh viện đa khoa tỉnh N tại địa chỉ số B đường T, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định với mục đích trộm cắp tài sản. Khoảng 08 giờ cùng ngày, G đi đến khu vực cửa phòng bệnh số 307 Khoa ngoại thần kinh, Tòa nhà số B Bệnh viện đa khoa tỉnh N. G quan sát thấy anh Trần Trung H2, sinh năm 2004, trú tại xóm S, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định đang nằm ngủ tại giường bệnh được kê sát tường phía bên trái nhìn từ cửa vào, với tư thế nằm nghiêng người, mặt quay vào phía trong tường, đầu hướng vào trong, chân hướng ra phía cửa phòng, còn anh Trần Văn H1 là anh trai của anh H2 đang nằm ngủ tại giường gấp được kê dọc nối tiếp với giường của anh H2. Tại đầu giường bệnh của anh H2 có để 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu trắng dung lượng 64GB có ốp lưng nhựa trong suốt (là tài sản của anh H1). Thấy không có ai trông coi, quản lý tài sản, G đã đi đến sát giường bệnh của anh H2, dùng tay trái lấy chiếc điện thoại trên rồi nhanh chóng tẩu thoát, đi xe buýt về nhà tại xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định để thay quần áo.
Đến khoảng 09 giờ 40 phút cùng ngày, G đi từ nhà đến cửa hàng điện thoại T, địa chỉ xóm F, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định bán chiếc điện thoại cho chủ cửa hàng là anh Trần Văn T2, sinh năm 2000 với giá 1.200.000 đồng. Khi bán, G không nói cho anh T2 biết đây là tài sản do G trộm cắp được. Số tiền có được từ việc bán điện thoại, G đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi phát hiện bị mất chiếc điện thoại, anh Trần Văn H1 đã đến Công an phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định để trình báo.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn G đã đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cơ quan điều tra đã thu giữ được 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu trắng dung lượng 64GB có ốp lưng nhựa trong suốt do anh Trần Văn T2 tự nguyện giao nộp. Đối với chiếc sim điện thoại, G đã tháo, vất xuống sông C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định nên cơ quan điều tra không thu hồi được.
Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 25/KL-HĐĐGTS ngày 02-5-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố N kết luận giá trị tài sản 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu trắng, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng và thu hồi được vật chứng có giá trị là 4.800.000 đồng.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định dữ liệu điện tử đối với 01 đoạn video được trích xuất từ camera tại hành lang tầng 3 Tòa nhà số B Bệnh viện đa khoa tỉnh N và 01 đoạn video được trích xuất từ camera tại cửa hàng Đ1. Bản kết luận giám định số 860/KL-KTHS ngày 15-5-
2
2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn G đã tác động đến anh trai là Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1991, trú tại xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định bồi thường cho anh Trần Văn T2 số tiền 1.200.000 đồng. Anh T3 đã nhận đủ số tiền và không có đề nghị gì khác. Đối với chiếc sim điện thoại, anh H1 không yêu cầu Nguyễn Văn G phải bồi thường.
Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc điện thoại Iphone 11 màu trắng, dung lượng 64GB, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Trần Văn H1.
Bản Cáo trạng số 139/CT-VKS ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Nguyễn Văn G về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn G khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn G theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- - Về hình phạt chính:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù.
- - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: anh Trần Văn T2 đã nhận đủ số tiền và không có đề nghị gì khác. Đối với chiếc sim điện thoại, anh H1 không yêu cầu Nguyễn Văn G phải bồi thường đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
- - Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn G phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
3
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn G và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn G trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ như: Lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Kết luận định giá số 25/KL-HĐĐGTS ngày 02-5-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận giám định số 860/KL-KTHS ngày 15-5-2024 của Phòng K Công an tỉnh N. Do vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 28-4-2024, tại phòng bệnh số 307 Khoa ngoại thần kinh, Tòa nhà số B Bệnh viện Đa khoa tỉnh N, Nguyễn Văn G đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng, dung lượng 64GB có giá trị là 4.800.000 đồng (bốn triệu tám trăm nghìn đồng) của anh Trần Văn H1.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn G là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và bị pháp luật nghiêm cấm. Tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt của anh Trần Văn H1 là có trị giá 4.800.000 đồng đồng nên hành vi của bị cáo phạm tội “ Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo Nguyễn Văn G đã ra đầu thú. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả nên được bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn G có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn G là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N nên cần áp dụng hình phạt tù có thời
4
hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về vấn đề dân sự: Người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan là anh Trần Văn T2 đã nhận đủ số tiền bồi thường; bị hại là anh Trần Văn H1 đã nhận lại chiếc điện thoại Iphone 11 màu trắng và không yêu cầu Nguyễn Văn G phải bồi thường gì thêm nên về trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Căn cứ Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 29-4-2024.
- Về án phí:
- Bị cáo Nguyễn Văn G phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
- Bị cáo Nguyễn Văn G được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là anh Trần Văn H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người có quyền lợi liên quan là anh Trần Văn T2 có quyền kháng cáo nội dung liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật thi hành án dân sự: Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
5
Nơi nhận:
- - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
- - TAND tỉnh Nam Định;
- - Công an TP. Nam Định;
- - Chi cục THADS TP. Nam Định;
- - Lưu hồ sơ vụ án + VT.
|
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
6 |
|
|
Lương Thị Kim Huế |
7
Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 139/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Giang trộm cắp tài sản
