|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 139/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09 - 7 - 2024 V/v: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Xuân Cầm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Vy và ông Nguyễn Đức Phương.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phước Đình Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 79/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Thanh N, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt (lần 2).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 3 năm 2024, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn là chị Hồ Thị Thanh N trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh Nguyễn Đức T tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đi đến quan hệ hôn nhân, đăng ký kết hôn ngày 20/01/2015 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian 06 năm thì phát sinh mâu thuẩn, thường xuyên cải vả, xúc phạm nhau, anh T nhiều lần có hành vi đánh chị N. Nguyên nhân mâu thuẩn là do tính tình không hợp dẫn đến bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng nhau. Do đó, từ tháng 8/2022 cho đến nay, chị N và anh T sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc gì nhau, cuộc sống mỗi người tự lo liệu. Nay chị N không còn tình cảm vợ chồng với anh T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Đức T.
Về con chung: Vợ chồng có một người con chung là Nguyễn Đức K, sinh ngày 29/7/2015, hiện đang sống với chị N. Chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được chăm sóc, nuôi dưỡng người con chung; yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại Biên bản xác minh ngày 20/03/2024 đối với anh Nguyễn Đức T thì gia đình anh T cho biết:
Anh T đã biết việc chị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tuy nhiên, do bận công việc nên anh T không đến tham gia tố tụng tại Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân, sau khi kết hôn anh T và chị N kết hôn thì cùng nhau đi làm ăn. Sau đó, giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẩn nên chị N dẫn theo người con chung về sống tại nhà cha mẹ ruột nên anh T và chị N sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc gì nhau; gia đình anh T có về thăm nhưng chị N cản trở. Mong muốn của gia đình là hai vợ chồng anh T, chị N đoàn tụ để xây dựng lại hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, chị N cương quyết yêu cầu ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật vì vợ chồng anh T, chị N mâu thuẩn nên đã sống ly thân từ lâu.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự, làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, các Điều 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Thanh N. Về án phí dân sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra, đánh giá tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng: Tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Đức T vắng mặt lần thứ hai, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo đúng quy định.
[2]Về nội dung:
[2.1]Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Hồ Thị Thanh N và anh Nguyễn Đức T thấy rằng: Chị N và anh T có tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế nên quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, giữa chị N và anh T phát sinh mâu thuẩn, thường xuyên cãi vả, xúc phạm nhau. Từ tháng 8 năm 2022 cho đến nay, chị N và anh T sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc gì nhau. Mặc dù đã biết chị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng anh T không có văn bản trình bày ý kiến cũng như không đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải, phiên tòa. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hồ Thị Thanh N.
[2.2]Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Hiện người con chung là Nguyễn Đức K, sinh ngày 29/7/2015 đang sống với chị N và có nguyện vọng muốn sống với mẹ. Do vậy, cần giao cho chị N chăm sóc, nuôi dưỡng người con chung nêu trên cho đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp, đúng quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N yêu cầu anh Nguyễn Đức T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi người con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng. Xét thấy, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, yêu cầu của chị N là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên cần chấp nhận.
[2.3]Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hồ Thị Thanh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật; anh Nguyễn Đức T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con có định kỳ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Thanh N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Thanh N được ly hôn anh Nguyễn Đức T.
2. Về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao người con chung là Nguyễn Đức K, sinh ngày 29/7/2015 cho chị Hồ Thị Thanh N chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Anh Nguyễn Đức T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi người con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) kể từ ngày Bản án này của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi người con chung đủ 18 tuổi.
Anh Nguyễn Đức T có quyền, nghĩa vụ thăm non con chung theo quy định của pháp luật, không ai được cản trở.
Kể từ ngày chị Hồ Thị Thanh N có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con) cho đến khi thi hành án xong, anh Nguyễn Đức T còn chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.
3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hồ Thị Thanh N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị N đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002213 ngày 28 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lộc; chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Nguyễn Đức T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Xuân Cầm |
Bản án số 139/2024/HNGĐ-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 139/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BAN AN NHAN - TOAN
