|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 139/2024/HS-ST Ngày: 05-6-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Phương Hồ;
- Ông Huỳnh Văn Bé.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đồng Quang Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 285/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị H (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1961 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A đường H, Khu phố F, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Số F đường N, Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 1/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông Trần Văn T, sinh năm: 1940 và con bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1941 (chết); chị em ruột: 03 người kể cả bị cáo; chồng: Lại Tấn P, sinh năm: 1961 (chết); con: 02 người, lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1986; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Năm 1988, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân” theo Bản án số 22/HS-ST ngày 04/3/1988. Bị cáo đã chấp hành xong.
- Năm 1993, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân” theo Bản án số 178/HS-ST ngày 29/10/1993. Bị cáo đã chấp hành xong.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Đinh Thị H1, sinh năm: 1994; địa chỉ: Tổ A, Khu phố E, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Đức L, sinh năm: 1980; địa chỉ: Số A Đ, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Người làm chứng:
- Ông Phạm Phương T1, sinh năm: 1988; địa chỉ: Số D Đường D, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Ông Trương Kỳ Trường H2, sinh năm: 1989; địa chỉ: Tổ C, Khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 04/4/2023, Trần Thị H điều khiển xe gắn máy Honda Airblade màu đen đỏ biển số 59P2-861.87 đến cửa hàng bán quần áo “Thế Giới Đồ Si” tại địa chỉ: Số B, Đường số A, Tổ A, Khu phố E, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh do Đinh Thị H1 là chủ cửa hàng để mua quần áo. Trong lúc xem lựa đồ trong cửa hàng thì H nhìn thấy chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu đen, phía sau có ốp màu trong suốt có kẹp 03 tờ vé số (không rõ số và Công ty X) và 600.000 đồng của chị H1 để trên nền nhà, tại khu vực để quần áo bán cho khách. Lúc này, H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản lấy chiếc điện thoại để bán lấy tiền tiêu xài. Lợi dụng lúc chị H1 đang ngồi xếp quần áo không để ý điện thoại, H đã lén lút dùng tay phải lấy trộm chiếc điện thoại của chị H1 bỏ vào túi áo khoác rồi quay ra nói với chị H1 “Con chọn cho cô 10 cái váy, cô đi chở gạo rồi quay lại lấy đồ”, chị H1 đồng ý.
Sau khi lấy được tài sản, H ra ngoài lấy xe gắn máy chạy xuống khu vực huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nhằm mục đích tìm nơi bán điện thoại. H đến cửa hàng mua bán điện thoại A tại địa chỉ: Số A Đ, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Trần Đức L làm chủ cửa hàng. H vào hỏi bán, ông L có hỏi điện thoại sao không biết mật khẩu, H trả lời điện thoại vừa mới nhặt được, ông L đồng ý mua điện thoại với số tiền 4.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, H điều khiển xe gắn máy trở về nhà tại Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngay sau khi H bỏ đi, chị H1 phát hiện chiếc điện thoại bị mất trộm, chị H1 đã tiến hành kiểm tra định vị chiếc điện thoại và đến Công an thị trấn C trình báo sự việc.
Đến khoảng 09 giờ 00 phút ngày 05/4/2023, lực lượng Công an đến nhà mời H về trụ sở làm việc.
Tiến hành khám xét chỗ ở tại Tổ A, Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh không thu giữ được gì.
Vật chứng thu giữ (Bút lục số 49):
Thu giữ của bị cáo Trần Thị H:
- 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade màu đen đỏ biển số 59P2-861.87, số máy: JF63E2404816, số khung: RLHJF6324KZ009947. Đây là tài sản của ông Trần Tấn P1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 179/QĐ-CSĐT ngày 09/10/2023.
- Tiền ngân hàng N: 4.000.000 đồng.
- 01 áo khoác dài tay màu vàng;
- 01 bộ quần áo màu trắng đen;
- 01 nón bảo hiểm loại lưỡi trai màu trắng phía trước vành nón có chữ adidas;
- 01 đôi dép màu đen.
Thu giữ Trần Đức L:
- 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu đen 128GB, SỐ I: 354703756544624.
Đối với tài sản trộm cắp: 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu đen 128GB, Số I1: 354703756544624, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Đinh Thị H1 theo Quyết định xử lý vật chứng số 179/QĐ-CSĐT ngày 09/10/2023.
Tại biên bản Kết luận định giá tài sản số 117/KL ngày 16/05/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C định giá: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu đen 128GB định giá 13.000.000 đồng.
Tại biên bản Kết luận định giá tài sản số 232/KL ngày 27/10/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C định giá: 03 tờ vé số; 01 ốp lưng bằng nhựa điện thoại Iphone 12 Promax định giá 60.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại.
Về phần dân sự: Bị hại Đinh Thị H1 đã nhận lại tài sản chiếc điện thoại Iphone 12 Promax, nhận số tiền bồi thường 11.200.000 đồng. Bị hại có đơn xin bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Người có quy ền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đức L không có yêu cầu bồi thường.
Bản cáo trạng số: 261/CT-VKS.CC ngày 06/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử bị cáo Trần Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận:
Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 04/4/2023, tại cửa hàng “Thế giới đồ Si” tại địa chỉ: Số B, Đường số A, Tổ A, Khu phố E, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thị Hoa lợi d lúc không có người trông coi tài sản đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu đen 128GB, phía sau có ốp lưng kẹp 03 tờ vé số và 600.000 đồng do chị Đinh Thị H1 là chủ sở hữu. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt trị giá 13.660.000 đồng. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị H từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.
Bị cáo Trần Thị H trốn và việc truy nã không có kết quả.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tống đạt, xét xử vắng mặt bị cáo Trần Thị H: Ngày 06/12/2023, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử vào lúc 09 giờ 15 phút ngày 20 tháng 12 năm 2023. Tuy nhiên, bị cáo đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ nhất không rõ lý do nên Tòa án đã hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa xét xử vụ án vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 27 tháng 12 năm 2023. Đến ngày 22/12/2023, Chánh án Tòa án nhân dân huyện Củ Chi đã ban hành Quyết định bắt, tạm giam bị cáo H để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, ngày 27/12/2023, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện C thông báo không thực hiện được Quyết định bắt, tạm giam đối với bị cáo H. Lý do: bị cáo Trần Thị H không có mặt tại chỗ ở: Số F đường N, Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 03/01/2024, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành truy nã bị cáo H. Ngày 23/02/2024, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi ra quyết định tạm đình chỉ vụ án do không biết rõ bị cáo đang ở đâu mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử. Ngày 28/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra quyết định truy nã số 1215 đối với bị cáo H. Đến ngày 16/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ban hành văn bản số 1563 thông báo đến Tòa án nhân dân huyện Củ Chi về việc chưa bắt được bị cáo H. Ngày 17/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi ban hành quyết định phục hồi vụ án số 01 và quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xét xử vắng mặt bị cáo Trần Thị H do bị cáo trốn và việc truy nã không có kết quả.
[3] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại cơ quan điều tra, lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thị H phù hợp với cáo trạng số 261/CT-VKS.CC ngày 06/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án: Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 04/4/2023, tại cửa hàng “Thế giới đồ Si” tại địa chỉ: Số B, Đường số A, Tổ A, Khu phố E, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thị Hoa lợi d lúc không có người trông coi tài sản đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu đen 128GB, phía sau có ốp lưng kẹp 03 tờ vé số và 600.000 đồng do chị Đinh Thị H1 là chủ sở hữu. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt trị giá 13.660.000 đồng theo Biên bản Kết luận định giá tài sản số 117/KL ngày 16/05/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C và Biên bản Kết luận định giá tài sản số 232/KL ngày 27/10/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo H là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, đúng tội, đúng người.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì mục đích thỏa mãn nhu cầu có tiền để tiêu xài, sử dụng của bị cáo mà bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà H1. Hành vi nêu trên của bị cáo H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm và tương xứng phù hợp để răn đe, cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội. Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
[4] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo cũng đã bồi thường cho bị hại số tiền 11.200.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật chưa tốt. Bị cáo đã từng 02 lần bị xét xử về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân” vào các năm 1988 và năm 1993, đã chấp hành xong. Ngoài ra, hiện nay bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.
[7] Về xử lý vật chứng vụ án:
- Đối với 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Airblade màu đen đỏ biển số 59P2-861.87, số máy: JF63E2404816, số khung: RLHJF6324KZ009947. Đây là tài sản của ông Trần Tấn P1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 179/QĐ-CSĐT ngày 09/10/2023. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét;
- Tiền ngân hàng N: 4.000.000 đồng. Đây là số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đức L không có yêu cầu nhận lại số tiền này. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- 01 (một) áo khoác dài tay màu vàng; 01 (một) bộ quần áo màu trắng đen; 01 (một) nón bảo hiểm loại lưỡi trai màu trắng phía trước vành nón có chữ adidas; 01 (một) đôi dép màu đen. Đây là những đồ vật mà bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy;
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Promax màu đen 128GB, Số I1: 354703756544624. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Đinh Thị H1 theo Quyết định xử lý vật chứng số 179/QĐ-CSĐT ngày 09/10/2023. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đinh Thị H1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về nghĩa vụ chịu án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Điều luật, tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt bị cáo Trần Thị H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo khoác dài tay màu vàng; 01 (một) bộ quần áo màu trắng đen; 01 (một) nón bảo hiểm loại lưỡi trai màu trắng phía trước vành nón có chữ adidas; 01 (một) đôi dép màu đen.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 4.000.000₫ (bốn triệu đồng)
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 244/PNK ngày 18/10/2023, bút lục số 135)
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 189/LNK ngày 06/10/2023, bút lục số 136);
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Trần Thị H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Anh Đạt |
Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 139/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo Trần Thị H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
