Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 139/2024/HS-ST

Ngày: 03/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lâm Thị Nga
  2. Ông Huỳnh Hữu Tường

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Lan

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 24/01/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 199/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn P; giới tính: nam; sinh ngày: 17/7/1996 tại tỉnh Sóc Trăng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú hiện nay: H tổ A, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 0/12; nghề nghiệp: làm thuê; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1; vợ con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/5/2023 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt.
  2. Họ và tên: Nguyễn Ngọc Q; giới tính: nam; sinh ngày: 18/10/1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: A tổ C, khu phố C, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn 05/12; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị H; vợ con: chưa có; về nhân thân: Ngày 10/3/2016 bị Công an Thành phố H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng về hành vi đánh bạc trái phép; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/5/2023 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt.
  3. Họ và tên: Huỳnh Quang V; giới tính: nam; sinh ngày: 20/8/1992 tại tỉnh An Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú hiện nay: B15, tổ B, khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: làm thuê; con ông (không rõ) và bà Huỳnh Thị D (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị H1, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2018; về nhân thân: Ngày 24/6/2011, bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 (hai) năm tù theo Bản án số 46/2011/HSST ngày 24/6/2011 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/8/2012, đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/5/2023 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt.
  4. Họ và tên: Trịnh Hoàng T2 (tên gọi khác: Khỉ); giới tính: nam; sinh ngày: 17/5/1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: 14 tổ B, khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 08/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông (không rõ) và bà Trịnh Thị T3; vợ con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/5/2023 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty TNHH S1

    Địa chỉ trụ sở chính: 87-89-91-93 P, phường B, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh

    Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Kim T4, sinh năm: 1968 (vắng mặt)

    Địa chỉ: I P, phường B, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh

  2. Ông Nguyễn Minh T5, sinh năm: 1977 (vắng mặt)

    Nơi cư trú: 1446 đường V, phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh

  3. Huỳnh Thanh T6, sinh năm: 1980 (vắng mặt)

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 118 đường số D, Cư xá Đ, phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh

    Nơi cư trú hiện nay: 262/6 đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

  4. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1963 (vắng mặt)

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đ, thị trấn T, T, tỉnh Sóc Trăng

    Nơi cư trú hiện nay: H tổ A, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

  5. Ông Liêu Quốc H2 (vắng mặt)

    Địa chỉ: F ấp F, V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 20 phút, ngày 17/5/2023, Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc Q, Trịnh Hoàng T2, Huỳnh Quang V và Nguyễn Hiếu Đ sau khi kết thúc ăn uống tại quán V1, địa chỉ: B đường S, khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì cả nhóm giải tán ra về đến trước địa chỉ A đường S, tổ D, khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, trong lúc V điều khiển xe mô tô chở Q ngồi sau để sang phần đường của đường S, tuy chưa xảy ra va chạm với xe ô tô tải, nhãn hiệu Suzuki, biển số 51D-029.97 do Nguyễn Minh T5 điều khiển nhưng Q nhảy xuống xe mô tô dùng tay đập 01 cái vào kính chiếu hậu phía bên tài xế gây nứt kính. V dựng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số: 67L2-294.70 chặn đầu xe ô tô tải, sau đó đi đến dùng tay phải đập 02 cái vào kính chiếu hậu phía bên tài xế nhưng không hư hỏng. Cùng lúc đó, T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario biển số 59K2-40621 đi một mình, cũng dựng xe mô tô này phía trước xe ô tô tải để chặn xe ô tô tải và dùng tay trái đập một cái vào kính chắn gió phía trước, dùng chân phải đạp một cái vào cản trước xe ô tô tải nhưng không gây hư hỏng. P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner biển số 83P4-03290 đi một mình cũng dựng xe mô tô này trước xe ô tô tải để chặn đầu xe rồi đi nhặt một cục đá gần đó. P dùng tay phải cầm cục đá này để ném 01 cái vào phía trước kính chắn gió xe ô tô tải gây nứt kính, sau đó P đi vòng ra phía bên phải đầu xe ô tô tải dùng chân đạp phải 01 cái vào kính chiếu hậu bên phải xe ô tô gây vỡ kính chỉ còn phần ốp kinh bằng nhựa. Lúc này, Nguyễn Hiếu Đ điều khiển xe mô tô chạy đến can ngăn không cho cả nhóm tiếp tục đập phá xe ô tô tải. Trong lúc nhóm của P bên ngoài đập phá xe thì anh Nguyễn Minh T5 khóa chặt cửa xe ô tô, không dám ra ngoài. Sau đi đập phá xe ô tô xong thì P, Q, T2, V rời khỏi hiện trường.

Sau đó anh Nguyễn Minh T5 đến Công an phường trình báo sự việc.

Quá trình điều tra, truy xét, cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1 mời Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc Q, Trịnh Hoàng T2, Huỳnh Quang V về trụ sở làm việc. Tại cơ quan điều tra, P, Q, T2, V thừa nhận hành vi như đã nêu trên.

Căn cứ Công văn số 720/UBND ngày 19/5/2023 của Ủy ban nhân dân phường T, Quận A thì vụ việc Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc Q, Trịnh Hoàng T2, Huỳnh Quang V chặn đầu xe ô tô tải của anh Nguyễn Minh T5, sau đó đập bể kính chiếu hậu, kính chắn gió đã làm mất an ninh trật tự, hoang mang dư luận trong nhân dân.

Kết luận định giá số 379/KL-HĐĐGTS ngày 29/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự (bút lục 432-433):

  • Chi phí thay 01 kính chắn gió phía trước, kích cỡ dài 1,2m, rộng 63 cm bị vỡ (vẫn còn kính) là 1.750.000 đồng.
  • Chi phí thay 01 kính chiếu hậu bên trái bị vỡ kích cỡ dài 17cm, rộng 14cm là 350.000 đồng.
  • Chi phí thay 01 kính chiếu hậu bên phải bị vỡ nát phần kính chỉ còn lại phần ốp kính bằng nhựa, kích cỡ dài 17 cm, rộng 14 cm là 350.000 đồng.

Vật chứng (bút lục 233; 236; 245; 247; 249):

  • 01 cục gạch bằng xi măng, kích cỡ dài 10cm, rộng 07 cm.
  • 01 xe ô tô tải nhãn hiệu Suzuki, biển số 51D-029.97 bị vỡ kính chắn gió phía trước kích cỡ dài 1,2 m, rộng 63 cm; kính chiếu hậu bên trái bị vỡ (vẫn còn kính) kích cỡ dài 17 cm, rộng 14 cm, 01 kính chiếu hậu bên phải bị vỡ nát phần kính chỉ còn lại phần ốp kính bằng nhựa kích cỡ dài 17cm, rộng 14cm. Qua xác minh xe do Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 đứng tên chủ sở hữu. Bà Lê Thị Kim T4 là người đại diện theo pháp luật của công ty đã ủy quyền cho anh Nguyễn Minh T5 thay mặt công ty giải quyết những vấn đề có liên quan đến vụ việc nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1 đã trả lại cho anh Nguyễn Minh T5.
  • Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, biển số 59K2-40621, số khung: MH1KF4117JK345595, số máy: KF41E1346601, kết quả xác minh xe do anh Huỳnh Thanh T6 đứng tên chủ sở hữu. Anh T6 trình bày vào ngày 17/5/2023 cho Anh Trịnh Hoàng T2 (cháu họ) mượn xe để đi công việc, cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1 đã trả lại cho anh T6.
  • 01 xe mô tô Honda Winner, biển số: 83P4-03290, số khung: RLHKC2G06KY205216, số máy: KC26E-1270005, kết quả xác minh do bà Nguyễn Thị T1 (mẹ của Nguyễn Văn P) đứng tên chủ sở hữu. Vào ngày 17/5/2023 P lấy xe trên để đi công việc, bà T1 không biết P sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1 đã trả lại cho bà T1.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 67L2-294.70, số khumg: 3117GY274122, số máy: JA39E-1136108 của Huỳnh Quang V đứng tên chủ sở hữu.
  • 01 USB có chứa hình ảnh liên quan đến vụ án (lưu kèm hồ sơ).

Dân sự: Gia đình các bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả, anh Nguyễn Minh T5 không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bản Cáo trạng số 46/CT-VKSQ12 ngày 22/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 truy tố các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc Q, Huỳnh Quang V, Trịnh Hoàng T2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố và tranh luận: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc Q, Huỳnh Quang V, Trịnh Hoàng T2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc Q, Huỳnh Quang V, Trịnh Hoàng T2 có đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự nên Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc Q, Huỳnh Quang V, Trịnh Hoàng T2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và đề nghị:

  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
  • Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
  • Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
  • Đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Quang V mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
  • Đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Hoàng T2 mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xử lý theo quy định.

Các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc Q, Huỳnh Quang V, Trịnh Hoàng T2 không có ý kiến gì đối với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định truy tố của cơ quan điều tra Công an Q1, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc Q, Huỳnh Quang V, Trịnh Hoàng T2 thừa nhận vào ngày 17/5/2023, tại trước địa chỉ A đường song hành, tổ D, khu phố D, phường T, Quận A, Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc Q, Huỳnh Quang V, Trịnh Hoàng T2 đã có hành vi chặn đầu xe ô tô tải biển số 51D-029.97 do anh Nguyễn Minh T5 điều khiển, bị cáo Q dùng tay đập một cái vào kính chiếu hậu phía bên tài xế làm nứt kính, bị cáo V dựng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 67L2-297.70 chặn đầu xe ô tô tải, sau đó đi đến dùng tay phải đập 02 cái vào kính chiếu hậu phía bên tài xế nhưng không hư hỏng, bị cáo T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario biển số 52K2-40621 dựng trước xe ô tô tải và dùng tay trái đập 01 cái vào kính chắn gió phía trước, dùng chân phải đạp 01 cái vào cản trước xe ô tô tải nhưng không gây hư hỏng; bị cáo P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner biển số 83P4-032.90 dựng trước xe ô tô tải để chặn đầu xe rồi đi lượm 01 cục đá ném 01 cái vào phía trước kính chắn gió xe ô tô tải gây nứt kính, sau đó đi vòng ra phía bên phải đầu xe ô tô tải dùng chân phải đạp 01 cái vào kính chiếu hậu bên phải xe ô tô gây vỡ kính. Tổng giá trị tài sản bị hư hỏng là 2.450.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã làm mất an ninh trật tự, gây hoang mang trong dư luận nhân dân nên các bị cáo phải chịu hình phạt trước pháp luật. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 truy tố các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

* Xét về nhân thân bị cáo Nguyễn Văn P: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

  • - Tình tiết tăng nặng: không.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả.

* Xét về nhân thân bị cáo Nguyễn Ngọc Q: Ngày 10/3/2016, bị Công an Thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép.

  • - Tình tiết tăng nặng: không.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, bị cáo có cha là Nguyễn Văn X được tặng huy chương quyết thắng có thời gian 25 năm phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân góp phần vào bảo vệ Tổ quốc.

* Xét về nhân thân bị cáo Huỳnh Quang V: Ngày 24/6/2011, bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 (hai) năm tù theo Bản án số 46/2011/HSST ngày 24/6/2011 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/8/2012, đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

  • - Tình tiết tăng nặng: không.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả.

* Xét về nhân thân bị cáo Trịnh Hoàng T2: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

  • - Tình tiết tăng nặng: không.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị cáo có ông ngoại là ông Trịnh Văn S là liệt sĩ.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 cục gạch bằng xi măng, kích cỡ dài 10 cm, rộng 07 cm xét cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 67L2-294.70, số khung: 3117GY274112, số máy: JA39E-1136108 của Huỳnh Quang V đứng tên chủ sở hữu, xét xe này là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về dân sự: Do không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, bị cáo Nguyễn Ngọc Q mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, bị cáo Huỳnh Quang V mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, bị cáo Trịnh Hoàng T2 mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc Q, Huỳnh Quang V, Trịnh Hoàng T2 phạm tội “Gây rôi trật tự công cộng”;
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s, b khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 03 (ba) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2023.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2023.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s, b khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Huỳnh Quang V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2023.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Trịnh Hoàng T2 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2023.
  • Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • Tịch thu tiêu hủy 01 cục gạch bằng xi măng, kích cỡ dài 10 cm, rộng 07 cm.
  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 67L2-294.70, số khung: 3117GY274112, số máy: JA39E-1136108.
  • Theo Quyết định chuyển vật chứng số 37/QĐ-VKS ngày 22/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12.
  • Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • * Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Ngọc Q, Huỳnh Quang V, Trịnh Hoàng T2 mỗi bị cáo có nghĩa vụ chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng. Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  • Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
  • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND Quận 12;
  • - Chi Cục THADS Quận 12;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Xuân Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 139/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: * Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Ngọc Quyết, Huỳnh Quang Vinh, Trịnh Hoàng Tuấn phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”; - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s, b khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Phú 03 (ba) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2023. - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Quyết 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2023. - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s, b khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Huỳnh Quang Vinh 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2023. - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trịnh Hoàng Tuấn 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2023. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Tịch thu tiêu hủy 01 cục gạch bằng xi măng, kích cỡ dài 10 cm, rộng 07 cm. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 67L2-294.70, số khung: 3117GY274112, số máy: JA39E-1136108. Theo Quyết định chuyển vật chứng số 37/QĐ-VKS ngày 22/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12. Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. * Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Ngọc Quyết, Huỳnh Quang Vinh, Trịnh Hoàng Tuấn mỗi bị cáo có nghĩa vụ chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng. Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger