TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 139/2025/HSST Ngày: 26/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa
Bà Mai Thị Viện.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Dương Xuân Tú –Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Trịnh Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/HSST ngày 28 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2025/QĐXXST - HS ngày 19/5/2025 đối với các bị cáo:
Nguyễn Văn Q; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 04 tháng 8 năm 1991 tại: huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký HKTT: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi tạm trú: B N, phường A, quận T, TP .; Nơi ở hiện tại: căn A2110, chung cư D, đường V, phường A, quận H, TP Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...]; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2018, bị TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 13 (mười ba) tháng 09 (chín) ngày tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”; Con ông: Nguyễn Văn C; Con bà: Ngô Thị Y; Vợ: Nguyễn Thị T; Con: có 02 con; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
Trần Quốc T1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 05 tháng 3 năm 2001 tại: TP .; Nơi đăng ký HKTT: số nhà C đường số A, Phường H, Q. G, TP .; Nơi ở hiện tại: số nhà H đường Q, phường H, quận G, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...]; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Trần Quốc H; Con bà: Trần Thị Ngọc T2; Vợ, con: Chưa có; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
Phan Văn L; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1989 tại: huyện V, tỉnh Bạc Liêu; Nơi đăng ký HKTT: Ấp T, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; Nơi tạm trú và nơi ở hiện tại: số nhà E đường H, phường B, quận B, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...]; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Phan Văn H1 (Đã chết); Con bà: Hồng Thị H2; Vợ: Bùi Thị Diễm H3; Có 02 con; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
Phan Thanh H4; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 15 tháng 02 năm 1989 tại: huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú và ở hiện tại: Khu phố Đ, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...]; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Phan Thanh H5; Con bà: Đào Thị T3; Vợ: Nguyễn Thị T4; Con: Chưa có; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Phan Văn L: Ông Trịnh Quốc L1 – Luật sư thuộc Công ty TNHH B1 và cộng sự, Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.
*Người có quyền lợi liên quan: Chị Lê Thị Hồng D, sinh năm 1991 và anh Mai Ngọc M, sinh năm 1989; Cùng địa chỉ: Căn hộ G, chung cư X, phường Đ, thành phố T. (có đơn xin xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 11/2023, chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent BKS 36A - 680.88 thuộc sở hữu của chị Lê Thị Hồng D, sinh năm 1991, trú tại số nhà A Đ, phường B, TP ., tỉnh Thanh Hóa bị Phòng C2 Công an tỉnh N xử phạt lỗi vi phạm giao thông (phạt nguội) tại khu vực đường C Đến tháng 11/2024, chị D vẫn chưa thực hiện nộp phạt đối với lỗi vi phạm trên nên xe ô tô của chị D chưa đủ điều kiện để đăng kiểm lại. Ngày 25/11/2024, chị D chia sẻ nội dung này trong các hội, nhóm trên mạng xã hội Facebook để xin được tư vấn và đã có người giới thiệu cho chị Duyên số điện thoại 0982.811.xxx của Phan Thanh H4, sinh năm 1989, trú tại KP. Đoàn Kết, TT. L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa để chị D liên hệ, hỏi cách làm thủ tục đăng kiểm. Cùng ngày, chị D đã gọi điện thoại cho Phan Thanh H4 để hỏi về cách có thể đăng kiểm xe, H4 bảo chị D kết bạn Z với H4 để trao đổi cụ thể hơn. Sau đó, H4 sử dụng tài khoản Zalo được đăng ký bằng số điện thoại 0982.811.xxx của H4 để kết bạn Zalo với số điện thoại 0972.342.xxx của chồng chị D là anh Mai Ngọc M, sinh năm 1989. H4 bảo chị D gửi ảnh chụp giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô gửi qua Z cho H4 để kiểm tra lỗi phạt nguội. Sau khi kiểm tra thì H4 biết chiếc xe ô tô của chị D đã bị mắc lỗi vi phạm giao thông vào khoảng tháng 11/2023 và do Phòng C2 Công an tỉnh N phát hiện. Qua nói chuyện, trao đổi với chị D thì H4 nảy sinh ý định giúp chị D bằng cách làm giả Công văn về việc thông báo xóa phạt nguội để có thể đi đăng kiểm xe cho chị D. Tiếp đó, H4 nói với chị D là H4 có thể lo hết các thủ tục, hồ sơ để chị D có thể đi đăng kiểm xe được, trong đó H4 sẽ trực tiếp mang xe đi đăng kiểm thay cho chị D luôn. Về chi phí dịch vụ, Hải báo cho chị D chi phí để H4 lo hồ sơ, thủ tục để xe đủ điều kiện được đăng kiểm là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), còn lệ phí đăng kiểm tại Trung tâm đăng kiểm xe hết bao nhiêu thì chị D có trách nhiệm thanh toán sau. Chị D đồng ý và sử dụng tài khoản ngân hàng của chồng chị D là 21410832609 mở tại Ngân hàng TMCP Đ (B2) mang tên Mai Ngọc M để chuyển trước số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) qua tài khoản ngân hàng F mở tại Ngân hàng TMCP P (OCB) mang tên Phan Thanh H4.
Vào ngày 26/11/2024, H4 lên mạng Internet tìm hiểu rồi vào hội nhóm “Xe ngân Lào - Việt Nam” trên mạng xã hội Facebook để tìm kiếm dịch vụ đặt làm giả giấy thông báo xử lý vi phạm của Phòng C2 Công an tỉnh N. Sau khi tìm kiếm thì có tài khoản ẩn danh đăng bài nhận làm dịch vụ trên nên H4 có vào hỏi chuyện thì người sử dụng tài khoản trên bảo H4 liên hệ qua mạng xã hội Telegram để dễ nói chuyện. Sau đó, H4 sử dụng tài khoản T5 là “Hh”, đăng ký bằng số điện thoại 0843.456.xxx của H4 để kết bạn với tài khoản T5 “Tôn Tín”. Sau một hồi trao đổi thì hai bên thống nhất nhận làm giả Công văn về việc thông báo xử lý vi phạm của Phòng C2 Công an tỉnh N với giá 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng). Để trả số tiền này, H4 nhờ em trai của mình là anh Phan Thanh H6, sinh năm 1996, trú tại khu phố Đ, TT. L, huyện T chuyển khoản giúp đến tài khoản ngân hàng số [...] mở tại Ngân hàng TMCP T8 (T9), đồng thời H4 chuyển thông tin đăng ký xe và thông tin lỗi phạt nguội của chiếc xe Huyndai Accent mang BKS 36A - 680.88 qua tin nhắn Telegram cho T1 để làm giả công văn theo thỏa thuận.
Đến ngày 29/11/2024, H4 nhận được qua dịch vụ chuyển phát nhanh 01 (một) bản gốc Công văn số 772/P6 (Đ3) ngày 22/10/2024 về việc thông báo xử lý vi phạm của Phòng C2 Công an tỉnh N với nội dung xác nhận chị Lê Thị Hồng D đã đến giải quyết lỗi phạt nguội cho chiếc xe ô tô Huyndai Accent BKS 36A - 680.88. Sau đó, H4 đã đến gặp chị D để lấy chiếc xe trên mang đi đăng kiểm tại Trung tâm Đ1 số 3603D, địa chỉ tại Đại lộ V, TP ., tỉnh Thanh Hóa. Sau khi đưa bản gốc Công văn số 772/P6 (Đ3) ngày 22/10/2024 về việc thông báo xử lý vi phạm của Phòng C2 Công an tỉnh N cho cán bộ đăng kiểm xem, chụp ảnh lưu vào hồ sơ, đồng thời kiểm tra xe và đăng kiểm xong thì H4 đã mang xe và 01 (một) tờ biên lai thu tiền, 01 (một) giấy chứng nhận đăng kiểm xe về giao cho chị D và chị D chuyển khoản tổng tiền phí đăng kiểm cho H4 với số tiền 5.200.000 đồng (Năm triệu hai trăm nghìn đồng). Sau khi sử dụng bản gốc Công văn số 772/P6 (Đ3) ngày 22/10/2024 của Phòng C2 Công an tỉnh N để đăng kiểm thành công cho chiếc xe ô tô Huyndai Accent mang BKS 36A - 680.88, do sợ bị cơ quan chức năng phát hiện nên H4 đã tiêu hủy bản gốc Công văn nêu trên.
Sau khi nhận được giấy chứng nhận đăng kiểm xe từ anh H4, chị D có kiểm tra trên hệ thống tra cứu phạt nguội thì phát hiện lỗi phạt nguội của xe của mình vẫn chưa được xóa. Gia đình chị D có nhờ mối quan hệ bạn bè để kiểm tra thì biết xe chị D khi đăng kiểm đã có thông báo của cơ quan chức năng về việc xóa phạt nguội. Do nghi ngờ anh H4 đã làm giả thông báo về việc xóa phạt nguội của Phòng C2 Công an tỉnh N để được đăng kiểm nên chị D đã gửi đơn tố cáo hành vi của Phan Thanh H4 đến Phòng C3 Công an tỉnh T đề nghị điều tra làm rõ, xử lý theo quy định.
Sau khi tiếp nhận tố giác về tội phạm của chị Lê Thị Hồng D, tổ công tác Phòng CSHS Công an tỉnh T đã nhanh chóng tiến hành xác minh nhân thân, triệu tập đối tượng Phan Thanh H4 để đấu tranh, làm việc. Quá trình làm việc, đối tượng Phan Thanh H4 khai nhận thông qua mạng xã hội đã liên hệ, đặt làm giả Công văn về việc thông báo xử lý vi phạm của Phòng C2 Công an tỉnh N về sử dụng để đăng kiểm xe cho chị D. Đồng thời, H4 còn cung cấp các thông tin về số điện thoại, tài khoản Telegram, tài khoản ngân hàng của đối tượng trực tiếp làm giả tài liệu trên. Bằng các biện pháp kiểm tra, xác minh, cơ quan điều tra đã xác định chủ tài khoản ngân hàng S1 mở tại Ngân hàng TMCP T8 (T9) là Trần Quốc T1, sinh năm 2001, trú tại số nhà H Q, phường H, quận G, TP ..
Từ thông tin trên, tổ công tác Phòng CSHS Công an tỉnh T đã nhanh chóng phối hợp với Công an T10 tiến hành xác minh nhân thân, triệu tập làm việc với đối tượng Trần Quốc T1. Tại cơ quan công an, T1 thừa nhận về hành vi phạm tội của bản thân, đồng thời cung cấp các thông tin liên quan đến nhóm đối tượng thường nhận làm giả giấy tờ, tài liệu cho T1. Quá trình điều tra mở rộng, cơ quan điều tra đã xác định được các đối tượng trên gồm: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1991, có HKTT tại thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, nơi ở hiện nay tại căn hộ A chung cư D, số A đường V, phường A, quận H, TP . và Phan Văn L, sinh năm 1989, có HKTT tại Ấp T, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu, nơi ở hiện nay tại số nhà E Hồ H, phường B, quận B, TP Hồ Chí Minh.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của các đối tượng Trần Quốc T1, Nguyễn Văn Q, Phan Văn L cùng các hoạt động điều tra, xác minh khác đã thu giữ được nhiều công cụ, phương tiện để sản xuất, làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức như: phôi dấu, phôi thẻ trắng, chip nhựa dạng CCCD, các loại mực in, giấy in, máy ép nhiệt, máy tính, điện thoại, các loại máy in, keo dán, bột định hình, mực phản quang,... và 03 (ba) căn cước công dân giả có thông tin, nguồn gốc như sau:
Căn cước công dân số [...] mang tên Lê Văn B, sinh ngày 12/6/1995, trú tại Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, ảnh chân dung công dân giống với đối tượng Trần Quốc T1. Qua điều tra xác minh, xác định căn cước công dân trên là do T1 liên hệ, cung cấp các thông tin liên quan, trong đó có ảnh chân dung của T1 để đặt Nguyễn Văn Q trực tiếp làm giả cho T1 với mục đích để T1 sử dụng, xác thực tài khoản Zalo ảo. Quá trình sản xuất, làm giả căn cước công dân trên thì Phan Văn L có biết và hỗ trợ cho Q thực hiện. Sau khi Q làm xong, L đã sử dụng ứng dụng Grab đặt người giao hàng chuyển đến địa chỉ nhà của T1, sau khi nhận được hàng thì T1 đã thanh toán tiền cho Q.
Căn cước công dân số [...] mang tên Trần Trung H7, trú tại số nhà A H, P, TP ., tỉnh Bình Dương, ảnh chân dung công dân giống với đối tượng Phan Văn L. Qua điều tra xác minh, xác định căn cước công dân trên là do L cung cấp các thông tin liên quan, trong đó có ảnh chân dung của L để nhờ Nguyễn Văn Q trực tiếp làm giả cho L với mục đích để L sử dụng, xác thực tài khoản Zalo ảo. Sau khi làm xong thì Q đã giao lại cho L, do làm ăn chung với nhau nên Q không lấy chi phí gì.
Căn cước công dân số [...] mang tên Vũ Văn Q1, trú tại số nhà E đường C, P. R, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ảnh chân dung công dân giống với đối tượng Nguyễn Văn Q. Qua điều tra xác minh, xác định căn cước công dân trên là do Q tự tìm kiểm thông tin, chuẩn bị hình ảnh của bản thân để trực tiếp làm giả với mục đích để Q sử dụng, xác thực tài khoản Zalo ảo. L và T1 đều không biết gì về việc Q làm giả căn cước công dân này.
* Kết quả xác minh đối với các tài liệu giả:
1. Đối với Công văn số 772/P6 (Đ3) ngày 22/10/2024 về việc thông báo xử lý vi phạm của Phòng C2 Công an tỉnh N:
Theo quy trình đăng kiểm bắt buộc và thực tế hoạt động đăng kiểm ngày 29/11/2024 đối với chiếc xe ô tô Huyndai Accent BKS 36A - 680.88, xác định: Cán bộ tiếp nhận hồ sơ tại Trung tâm Đ1 xác nhận đã nhận được 01 (một) bản gốc Công văn số 772/P6 (Đ3) ngày 22/10/2024 về việc thông báo xử lý vi phạm của Phòng C2 Công an tỉnh N, sau đó đã sao chụp lại Công văn trên và lưu vào hồ sơ đăng kiểm. Căn cứ vào nội dung công văn, Trung tâm Đ1 đã cấp giấy chứng nhận đăng kiểm ngày 29/11/2024 cho chiếc xe ô tô Huyndai Accent BKS 36A - 680.88.
Ngày 03/12/2024, Cơ quan CSĐT(PC02) Công an tỉnh T đã tiến hành làm việc, xác minh tại Phòng CSGT Công an tỉnh N, xác định: Phòng CSGT Công an tỉnh N không ban hành Công văn số 772/P6 (Đ3) ngày 22/10/2024 về việc thông báo xử lý vi phạm đối với chiếc xe ô tô Huyndai Accent BKS 36A - 680.88. Qua kiểm tra nội dung bản sao lưu Công văn, xác định các thông tin trên Công văn trên đều không chính xác.
Do sợ bị cơ quan chức năng phát hiện nên sau khi sử dụng để đăng kiểm xe ô tô, đối tượng Phan Thanh H4 đã hủy hoàn toàn Công văn số 772/P6 (Đ3) ngày 22/10/2024. Vì vậy, Cơ quan CSĐT không thu được bản gốc Công văn trên để thực hiện trưng cầu giám định.
2. Đối với 05 (năm) căn cước công dân gắn chip gồm: số [...] mang tên Lê Văn B, số [...] mang tên Trần Trung H7, số [...] mang tên Vũ Văn Q1, số [...] mang tên Trần Quốc T1 và số [...] mang tên Phan Văn L:
Tiến hành xác minh các thông tin trên 05 (năm) căn cước công dân gắn chip kể trên tại Cục C4 Bộ C5, xác định:
Các thông tin, hình ảnh trên 03 (ba) căn cước công dân gồm: số [...] mang tên Lê Văn B, số [...] mang tên Trần Trung H7 và số [...] mang tên Vũ Văn Q1 không trùng khớp với dữ liệu dân cư được lưu trữ tại Cục C4 Bộ C5.
Các thông tin, hình ảnh trên 02 (hai) căn cước công dân gồm: số [...] mang tên Trần Quốc T1 và số [...] mang tên Phan Văn L trùng khớp với dữ liệu dân cư được lưu trữ tại Cục C4 Bộ C5.
* Kết quả trưng cầu giám định
Ngày 09/12/2024, Cơ quan CSĐT(PC02) Công an tỉnh T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 2941/QĐ-CSHS, trưng cầu Phòng PC09 Công an tỉnh T giám định tài liệu đối với 05 (năm) căn cước công dân có thông tin như sau:
01 (một) căn cước công dân gắn chip số [...] mang tên Lê Văn B, sinh ngày 12/6/1995, trú tại Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (mẫu A1).
01 (một) căn cước công dân gắn chip số [...] mang tên Trần Trung H7, sinh ngày 01/12/1991, trú tại 157 H, P, TP ., tỉnh Bình Dương (mẫu A2).
01 (một) căn cước công dân gắn chip số [...] mang tên Vũ Văn Q1, sinh ngày 29/10/1990, trú tại số nhà E đường C, P. R, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (mẫu A3).
01 (một) căn cước công dân gắn chip số [...] mang tên Trần Quốc T1, sinh ngày 5/3/2001, trú tại số nhà C đường số A, Phường H, Q. G, TP . (mẫu A4).
01 (một) căn cước công dân gắn chip số [...] mang tên Phan Văn L, sinh ngày 01/01/1989, trú tại Ấp T, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (mẫu A5).
Tại Kết luận giám định số 201/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của Phòng C3 Công an tỉnh T, kết luận:
Phôi in căn cước công dân ở các mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2, A4, A5) so với phôi in căn cước công dân ở mẫu so sánh (ký hiệu M): Đúng mẫu.
Phần ảnh ở căn cước công dân các mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với phần ảnh ở căn cước công dân các mẫu cần giám định (ký hiệu A3, A4, A5) không cùng phương pháp in.
Căn cước công dân trong mẫu cần giám định (ký hiệu A3) là giả.
* Đồ vật, tài liệu bị thu giữ
05 căn cước công dân gắn chip mang tên Lê Văn B, Trần Trung H7, Vũ Văn Q1, Trần Quốc T1 và Phan Văn L.
01 (một) bản sao Công văn số 772/P6 (Đ3) ngày 22/10/2024 về việc thông báo xử lý vi phạm của Phòng C2 Công an tỉnh N.
01 (một) Giấy chứng nhận đăng kiểm cấp ngày 29/11/2024 đối với chiếc xe Huyndai Accent màu trắng mang BKS: 36A - 680.88.
01 (một) Biên lai thu tiền thuế, phí, lệ phí đăng kiểm ngày 29/11/2024 đối với chiếc xe Huyndai Accent màu trắng mang BKS: 36A - 680.88.
01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe Huyndai Accent màu trắng BKS: 36A - 680.88.
01 (một) máy khắc dấu màu xanh đen không rõ nhãn hiệu;
01 (một) máy tính nhãn hiệu Dell Precsion M4600 màu đen;
01 (một) điện thoại di động màu đen nhãn hiệu KECHAODA;
01 (một) hộp dấu hình trụ chữ nhật màu đó nhãn hiệu Shiny;
01 (một) máy in kim nhãn hiệu Epson LQ 310, model PA81A màu bạc;
01 (một) hộp keo nhãn hiệu Elmer's Glue All đã qua sử dụng;
100 (một trăm) thẻ nhựa trắng dạng phôi CCCD chưa có thông tin;
01 (một) tập nhựa ép Plastic khổ giấy A4, có KT (220 x 310)mm;
02 (hai) hộp keo dán nhãn hiệu Shiha màu đen;
01 (một) thước có độ dài 30cm bằng kim loại màu bạc;
01 (một) hộp dấu số nhãn hiệu Great Wall model 45:
07 (bảy) hộp mực máy in nhãn hiệu các loại;
01 (một) hộp bột định hình chống dính:
01 (một) phôi dấu hình trụ chữ nhật màu xanh;
01 (một) túi chứa nhiều chíp dạng CCCD;
01 (một) lọ mực phản quang:
01 (một) cuộn phim nhựa của máy in:
16 (mười sáu) phôi bằng tốt nghiệp, chứng chỉ các loại chưa có nội dung;
01 (một) máy ép nhiệt màu xám;
01 (một) máy in thẻ nhãn hiệu MATICA 8100,
01 (một) tập giấy in decal màu trắng dạng hình chữ nhật;
01 (một) tập phong bì thư màu trắng không có nội dung;
01 (một) tập bìa hồ sơ màu cam không ghi nội dung;
01 (một) dung phôi pha mực dấu nhãn hiệu Noris 199RM.
01 (một) máy khắc dấu màu xám, mặt trước của máy có dòng chữ “KHẮC DẤU QUỐC TIẾN";
01 (một) máy khắc dấu màu trắng bạc, phía trước có dán dòng chữ "MÁY KHẮC DẤU CÔNG NGHỆ ĐỒ KEO POLYMER";
01 (một) máy in màu xám nhãn hiệu HP Laser Jet 1020;
19 (mười chín) phôi dấu bằng nhựa dạng hình hộp chữ nhật màu đỏ - đen có cán trong suốt;
05 (năm) phôi dấu bằng gỗ màu vàng nhạt có đáy hình tròn;
07 (bảy) phôi dấu bằng gỗ màu vàng nhạt có đáy hình chữ nhật;
02 (hai) phôi dấu hình trụ chữ nhật màu đỏ bằng nhựa;
19 (mười chín) hộp mực các loại có màu sắc, kích thước khác nhau;
20 (hai mươi) đệm mút màu xám - đen hình chữ nhật;
10 (mười) đệm mút màu xám đen, hình tròn;
11 (mười một) hộp mực màu đỏ có nắp trắng;
03 (ba) hộp mực màu xanh có nắp trắng;
01 (một) hộp chữ nhật bên trong có bột màu trắng, bên ngoài hộp dán nhãn dòng chữ "Bột định hình".
04 (bốn) phôi dấu bằng nhựa dạng hình trụ tròn màu đỏ - trắng:
01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Pro màu xám - bạc.
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE màu đỏ, bên trong có gắn sim số điện thoại 0903.208.xxx, máy cũ qua sử dụng.
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đen, bên trong gắn sim số điện thoại 0979.203.xxx, máy cũ qua sử dụng.
01 (một) sim số điện thoại là 0843.456.xxx.
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xám, bên trong có gắn sim số điện thoại là 0937.211.xxx.
* Kết quả xử lý vật chứng, đồ vật và tài liệu có liên quan:
- Vật chứng đã được nhập kho vật chứng:
Các vật chứng trên đã được nhập kho vật chứng theo quy định (trừ 05 (năm) căn cước công dân gắn chip mang tên Lê Văn B, Trần Trung H7, Vũ Văn Q1, Trần Quốc T1, Phan Văn L; 01 (một) bản sao Công văn số 772/P6 (Đ3) ngày 22/10/2024 về việc thông báo xử lý vi phạm của Phòng C2 Công an tỉnh N; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng kiểm cấp ngày 29/11/2024 và 01 (một) Biên lai thu tiền thuế, phí, lệ phí đăng kiểm ngày 29/11/2024 đối với chiếc xe Huyndai Accent màu trắng mang BKS: 36A – 680.88 (được đưa vào hồ sơ vụ án).
- Vật chứng, đồ vật, tài liệu đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp: 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe cấp ngày 21/10/2021 của chiếc xe Huyndai Accent màu trắng mang BKS: 36A - 680.88.
* Các tình tiết khác trong vụ án:
Đối với sao kê giao dịch tài khoản 666999999979 đứng tên Trần Quốc T1 mở tại Ngân hàng TMCP T8 (T11), quá trình điều tra đã cho bị cáo Trần Quốc T1 rà soát, sàng lọc các giao dịch có nghi vấn liên quan đến hành vi làm giả giấy tờ, tài liệu của T1. Do tài liệu sao kê của Ngân hàng TMCP T8 (T11) cung cấp không có thông tin tài khoản đối ứng nên Cơ quan điều tra đã thống kê, tra cứu các số bút toán giao dịch có liên quan và đã gửi công văn đề nghị ngân hàng tra cứu, cung cấp thông tin các tài khoản đối ứng từ số bút toán giao dịch trên nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục đôn đốc kết quả trả lời từ phía ngân hàng, khi có văn bản phúc đáp sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, nếu có đủ căn cứ sẽ đề xuất xử lý các đối tượng vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.
Cơ quan điều tra cũng đã gửi công văn tra cứu thông tin chủ tài khoản và sao kê tài khoản ngân hàng số 00123456879 đứng tên Công ty TNHH S2 mở tại Ngân hàng TMCP T8 (T11) do Nguyễn Văn Q sử dụng nhưng phía Ngân hàng lại gửi nhầm kết quả tra cứu, sao kê của tài khoản ngân hàng khác (kết quả của tài khoản 00123456789 đứng tên Nguyễn Tuấn L2). Đồng thời, cơ quan điều tra đã có công văn đề nghị Sở K (nay là Sở T12 tra cứu thông tin đăng ký doanh nghiệp của Công ty TNHH S2 nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục đôn đốc kết quả trả lời từ phía Ngân hàng và Sở T12, khi có văn bản phúc đáp sẽ tiếp tục điều tra mở rộng, xác minh làm rõ, nếu có đủ căn cứ sẽ đề xuất xử lý các đối tượng vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 51/CT-VKS-P1 ngày 28/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá truy tố: Nguyễn Văn Q, Trần Quốc T1, Phan Văn L, Phan Thanh H4 phạm tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, Q, T1, L phạm vào Điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự, Phan Thanh H4 phạm vào Khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
* Quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Vũ Văn Q1, Trần Quốc T1, Phan Văn L, Phan Thanh H4 về tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa:
Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 341; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn Q từ 25 - 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/12/2024.
Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 341; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1, Khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Trần Quốc T1 và Phan Văn L từ 24 - 27 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 341; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phan Thanh H4 từ 30 – 50 triệu đồng sung quỹ Nhà nước.
Đề nghị xử lý vật chứng và buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.
* Quan điểm bào chữa của luật sư cho bị cáo Phan Văn L: Thống nhất với tội danh, khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người có quyền lợi liên quan có đơn xin giảm nhẹ TNHS cho bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, gia đình của bị cáo Phan Văn L có công với cách mạng gia đình ông ngoại là ông Ngô Quang T6 là liệt sỹ trong kháng chiến chống Mỹ gia đình bị cáo đang thờ cúng để cho bị cáo L được cải tạo tại địa phương.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan CSĐT, điều tra viên Công an tỉnh T, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên VKSND tỉnh Thanh Hóa trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện là hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và lời khai tại phiên tòa của các bị cáo xác định:
Vào tháng 11/2024, xuất phát từ mục đích vụ lợi và phục vụ các mục đích cá nhân khác Nguyễn Văn Q, Trần Quốc T1 và Phan Văn L đã chuẩn bị nhiều công cụ, máy móc, phương tiện để phục vụ cho hoạt động sản xuất, làm giả các loại giấy tờ, tài liệu của cơ quan, tổ chức như: căn cước công dân, giấy phép lái xe, giấy chứng nhận đăng ký xe, công văn về việc thông báo xóa phạt nguội.., quá trình điều tra đủ căn cứ xác định các đối tượng đã có hành vi làm giả các giấy tờ, tài liệu của cơ quan, tổ chức, cụ thể như sau:
Nguyễn Văn Q đã có hành vi làm giả 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Lê Văn B, sinh ngày 12/6/1995 trú tại Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Trần Trung H7, trú tại 157 H, P, TP ., tỉnh Bình Dương và 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Vũ Văn Q1, trú tại 588/1/14 đường C, P. R, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Trần Quốc T1 đã có hành vi làm giả 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Lê Văn B, sinh ngày 12/6/1995 trú tại Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp và 01 (một) Công văn số 772/P6 (Đ3) ngày 22/10/2024 của Phòng C2 Công an tỉnh N về việc thông báo xử lý vi phạm phương tiện đối với xe ô tô BKS 36A - 680.88.
Phan Văn L đã có hành vi làm giả 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Lê Văn B, sinh ngày 12/6/1995 trú tại Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp và 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Trần Trung H7, trú tại 157 H, P, TP ., tỉnh Bình Dương.
Hành vi trên của Nguyễn Văn Q, Trần Quốc T1 và Phan Văn L đã phạm vào tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, quy định tại Điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Đối với Phan Thanh H4, vì động cơ vụ lợi nên đã có hành vi cung cấp thông tin đăng ký xe và thông tin lỗi phạt nguội của chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent mang BKS 36A - 680.88 qua tin nhắn ứng dụng Telegram cho đối tượng Trần Quốc T1 để làm giả 01 (một) bản gốc Công văn số 772/P6 (Đ3) ngày 22/10/2024 về việc thông báo xử lý vi phạm của Phòng C2 Công an tỉnh N, sau đó mang đi sử dụng tiến hành đăng kiểm cho xe ô tô. Hành vi của Phan Thanh H4 là đồng phạm với Trần Quốc T1 về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất vụ án, vai trò và TNHS của các bị cáo:
Đây là vụ án “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” có tính chất nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa và TP .. Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Q, Trần Quốc T1, Phan Văn L, Phan Thanh H4 xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, làm xáo trộn, gây khó khăn cho hoạt động quản lý hành chính Nhà nước; xâm phạm đến tính xác thực, hợp pháp của tài liệu, gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức; xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp, gây thiệt hại về kinh tế, uy tín, quyền lợi của các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” là vi phạm pháp luật, gây tác hại cho xã hội, nếu bị phát hiện sẽ bị xử lý nghiêm khắc, nhưng vì hám lợi và xem thường pháp luật, các bị cáo thực hiện để thu lời bất chính. Hành vi cần phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Nguyễn Văn Q có hành vi làm giả 03 tài liệu nên giữ vai trò đầu vụ. Trần Quốc T1, Phan Văn L có hành vi làm giả 02 tài liệu nên giữ vai trò ngang nhau và thấp hơn bị cáo Nguyễn Văn Q. Phan Thanh H4 đồng phạm với Trần Quốc T1 làm giả 01 tài liệu nên vai trò có mức độ thấp nhất trong vụ án.
Bị cáo Nguyễn Văn Q vai trò chính, nhân thân xấu năm 2018 bị TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tuyên phạt về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Lần phạm tội này thể hiện việc không cải sửa nên việc cách ly xã hội đối với bị cáo một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, căn cứ điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ cho bị cáo Q một phần vì sau khi phạm tội đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình của Nguyễn Văn Q có công với cách mạng có ông nội là Nguyễn Văn T7 được tặng huy chương kháng chiến, bà nội là Trịnh Thị S được UBND tỉnh T tặng bằng khen vì thành tích trong kháng chiến chống Mỹ, bố bị cáo là ông Nguyễn Văn C là người khuyết tật có xác nhận của UBND xã T, người có quyền lợi liên quan là chị Lê Thị Hồng D và anh Mai Ngọc M có đơn xin giảm nhẹ TNHS cho bị cáo.
Xét bị cáo Trần Quốc T1, Phan Văn L ngoài các tình tiết giảm nhẹ như: sau khi phạm tội đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người có quyền lợi liên quan có đơn xin giảm nhẹ TNHS cho bị cáo, thì các bị cáo đều có nhân thân tốt, gia đình của bị cáo Phan Văn L có công với cách mạng gia đình ông ngoại là ông Ngô Quang T6 là liệt sỹ trong kháng chiến chống Mỹ gia đình bị cáo đang thờ cúng. Gia đình của bị cáo Trần Quốc T1 cha mẹ ly hôn, bị cáo sống cùng với cha già đau yếu và em gái còn nhỏ, bị cáo có tinh thần vì cộng đồng, tích cực ủng hộ đồng bào bão lũ số tiền 110.000.000đ và gia đình bị cáo ủng hộ quỹ vì người nghèo số tiền 1.000.000đ, các bị cáo đều có đơn xin cải tạo tại địa phương, có nhân thân tốt, nơi cơ trú rõ ràng, nên xét thấy không cần thiết phải cách ly xã hội và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, căn cứ vào Điều 65 BLHS cho bị cáo Trần Quốc T1, Phan Văn L được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan công an, chính quyền và gia đình để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, mà nghiêm túc cải tạo thành công dân tốt.
Bị cáo Phan Thanh H4 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, vai trò có mức độ thấp nhất trong vụ án, theo nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt đối với đồng phạm, nên áp dụng Điều 35 BLHS đề áp dụng hình phạt chính là phạt tiền bị cáo sung quỹ Nhà nước là phù hợp.
[3] Về vật chứng: Số vật chứng, tài sản thu giữ của vụ án tại mục 1,2,3,4 (theo biên bản giao nhận vật chứng số 122/2025/TV-CTHADS ngày 22/5/2025 của Cục THA dân sự tỉnh T), là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Xét số tiền 2.000.000đ bị cáo Nguyễn Văn Q nộp ngày 28/3/2025 vào tài khoản số 3949.0.1054196.00000 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá. Xác định trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn Q hưởng lợi 400.000đ khi làm CCCD Lê Văn B, nên tịch thu sung quỹ Nhà Nước. Trả lại cho Q 1.600.000đ. Trần Quốc T1 hưởng lợi 800.000đ khi làm giả Công văn của phòng C2 Công an tỉnh N nên truy thu sung quỹ Nhà nước.
[5] Án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật và có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Nguyễn Văn Q, Trần Quốc T1, Phan Văn L, Phan Thanh H4 phạm tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”
Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 341; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự (đối với Q, T1 và L). Thêm Điều 38 Bộ luật hình sự (Đối với Q); Khoản 1, Khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự (đối với T1 và L)
Xử phạt:
Nguyễn Văn Q 25 (Hai lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/12/2024.
T (Hai tư) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Trần Quốc T1 cho Công an phường H8, quận G, TP. giám sát và UBND phường H9, quận G, TP . quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình cùng phối hợp giám sát, quản lý, giáo dục bị cáo.
Phan Văn Lợi 2 (Hai tư) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Phan Văn L cho Công an xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu giám sát và UBND xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình cùng phối hợp giám sát, quản lý, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trả tự do cho bị cáo Trần Quốc T1 và Phan Văn L nếu không bị tạm giữ, tạm giam trong vụ án khác.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 341; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 53; Điều 35 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phan Thanh H4 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà Nước. (Tiền nộp một lần sau khi án có hiệu lực pháp luật).
Căn cứ: Khoản 1; Điểm a Khoản 2; Điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số vật chứng, tài sản thu giữ của vụ án tại mục 1,2,3,4 (theo biên bản giao nhận vật chứng số 122/2025/TV-CTHADS ngày 22/5/2025 của Cục THA dân sự tỉnh T).
Tịch thu 400.000đ của bị cáo Q, trả lại cho bị cáo 1.600.000đ trong số tiền 2.000.000đ bị cáo nộp ngày 28/3/2025 vào tài khoản số 3949.0.1054196.00000 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá.
Truy thu của Trần Quốc T1 800.000đ để sung quỹ Nhà nước.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo H4 chưa thi hành khoản tiền nộp phạt, bị cáo T1 chưa thi hành khoản tiền truy thu thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.
Án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
Lê Thị Dung | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Dung |
Bản án số 139/2025/HSST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 139/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Q cùng đồng phạm "làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức"
