|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 139 /2025/HSST
Ngày: 13/11/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lợi
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà
Bà Nguyễn Thị Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Dịu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 131/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Lê Đức T, sinh năm 2004; HKTT và nơi cư trú: Thôn L, xã T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đức N và bà Lương Thị Thanh N1; vợ, con: Chưa; tiền sự: Không;
Tiền án: Bản án số 09/2023/HSST ngày 27/3/2023, Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai phạt 01 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chấp hành xong ngày 24/12/2023 (chưa được xóa án tích).
Danh chỉ bản số 2375 do Công an Thành phố H lập ngày 23/8/2025; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố H (có mặt tại phiên tòa).
2. Nguyễn Đình Q, sinh năm 2005; HKTT và nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T1 và bà Trần Thị V; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không;
Danh chỉ bản số 08 do Công an phường Y lập ngày 22/8/2025; Tạm giữ từ ngày 16/8/2025 đến ngày 22/8/2025 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Anh Đỗ Phúc L, sinh ngày 14/11/2008.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Đỗ Ngọc H, sinh năm 1982 (mẹ đẻ). Cùng cư trú: Thôn Đ, xã V, tỉnh Hưng Yên (đều có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Đức T (sinh năm 2004, nơi thường trú: Thôn L, xã T, Thành phố Hà Nội) và Nguyễn Đình Q (sinh năm 2005, nơi thường trú: Thôn Đ, xã H, Thành phố Hà Nội) là bạn bè quen biết từ năm 2021, đều đã bỏ học, không có việc làm ổn định, thường xuyên tụ tập chơi bời. Khoảng 23 giờ ngày 05/8/2025, T và Q gặp rủ nhau đi chơi, T đi xe máy Honda Winer, biển kiểm soát 90B2-999.38, Q đi xe máy Honda SH mode, biển kiểm soát 29G1-406.42 đi từ chung cư H, phường P, Thành phố Hà Nội ra Quốc lộ F đi ăn đêm tại khu đường tàu Ba La. Khoảng 01 giờ ngày 06/8/2025, cả hai đến quán I tại khu C đất dịch vụ Hòa Bình, phường Y, Thành phố Hà Nội của anh Đỗ Minh N2 (sinh năm 2003, nơi thường trú: Thôn I, xã E, tỉnh Đắk Lắk; hiện ở CL8-L08-1 Khu C đất dịch vụ Hòa Bình, phường Y, Thành phố Hà Nội) và anh rể là Trần Hoàng H1 (sinh năm 1996, nơi thường trú: Xóm B, xã H, tỉnh Ninh Bình; hiện ở CL30-L30-29 Khu C đất dịch vụ, phường Y, Thành phố Hà Nội) làm chủ để chơi game. Khi vào khu gửi xe T quan sát thấy có 01 xe máy Honda Wave, biển kiểm soát 89K2-031.71 của anh Đỗ Phúc L (sinh năm 2008, nơi thường trú: Thôn Đ, xã V, tỉnh Hưng Yên) là khách chơi game, chìa khóa xe vẫn cắm ở cốp xe, T và Q đi lên tầng 2 để chơi game. Sau đó, T nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe máy của anh L, T đi xuống tầng 1 thấy không có người nên đến rút chìa khóa xe cắm ở cốp rồi đi lên tầng 2 nói với Q đã lấy được chìa khóa xe và hỏi Q “có ăn không” (ý nói có lấy trộm xe không), Q đồng ý. Sau đó, T đăng nhập vào tài khoản Facebook của mình mang tên “Tuấn C” để rao bán xe rồi cả hai thanh toán tiền chơi game và đi xuống quán. T lấy xe máy của mình đem đến cất ở khu đất dịch vụ phường P, Q đi xe máy của Q theo sau. Sau khi cất xong xe, Q chở T bằng xe máy của Q quay lại quán game, dừng cách quán khoảng 100 mét, Q ngồi ở xe cảnh giới, còn T đi bộ đến vị trí để xe máy của anh L rồi cắm chìa khóa, nổ máy điều khiển xe ra chỗ Q và cả hai đi về nơi T cất giấu xe. Tại đây, T lấy tua vít, cờ lê trong cốp chiếc xe này rồi tháo biển kiểm soát 89K2-031.71 cho vào trong cốp xe máy trộm cắp. Sau khi đăng bài trên Facebook, có một thanh niên tên T (không rõ lai lịch) hỏi mua xe với giá 6.500.000 đồng, T đồng ý và nói lại cho Q biết, người thanh niên hẹn giao xe tại khu vực Chùa L1. Sau đó, T điều khiển xe trộm cắp đi trước, Q đi xe máy của Q theo sau đến điểm hẹn gặp thanh niên hỏi mua, giao xe và nhận tiền rồi Q chở T đi về chỗ cất xe, T lấy xe và cả hai đi về. Số tiền bán xe T chia cho Q 3.000.000 đồng, T cầm 3.500.000 đồng, cả hai ăn tiêu hết.
Đến ngày 16/8/2025, Lê Đức T, Nguyễn Đình Q đã đến Công an phường Y đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ phương tiện và tài sản liên quan đến vụ án là 01 xe máy Honda SH mode, biển kiểm soát 29G1-406.42, số khung 090336, số máy 0090185 do bà Trần Thị V là mẹ đẻ của Nguyễn Đình Q giao nộp.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 928/KL-HĐĐGTS ngày 21/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Thành phố P, kết luận: “…………..Giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 89K2-031.71, số máy JA70E0034158, số khung RLHJA3936PY608956 là 13.100.000 đồng”.
Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, truy tìm chiếc xe máy Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 89K2-031.71 của anh Đỗ Phúc L bị trộm cắp, nhưng không làm rõ được người mua để thu hồi và xử lý.
Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, anh Đỗ Phúc L đã được Nguyễn Đình Q và gia đình bồi thường thiệt hại chiếc xe bị mất trộm với số tiền 14.000.000 đồng, anh L không có yêu cầu đề nghị gì và có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho Q.
Cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 28/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội truy tố Lê Đức T - Nguyễn Đình Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên toà:
- - Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS, xử phạt: Lê Đức T từ 15 đến 18 tháng tù.
Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS, xử phạt: Nguyễn Đình Q từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; về xử lý vật chứng: Không; về trách nhiệm dân sự: Không xem xét; về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại: Xét thấy những người này đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác Cơ quan điều tra đã thu thập, đủ cơ sở kết luận: Hồi 01 giờ ngày 06/8/2025, tại nơi để xe máy của quán I địa chỉ khu C, phường Y, Thành phố Hà Nội do anh Trần Hoàng H1 và anh Đỗ Minh N2 làm chủ, lợi dụng sơ hở của khách chơi game là anh Đỗ Phúc L chủ sở hữu chiếc máy Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 89K2-031.71 trị giá 13.100.000 đồng, Lê Đức T và Nguyễn Đình Q đã lén lút chiếm đoạt đem bán lấy số tiền 6.500.000 đồng, sử dụng ăn tiêu hết. Hành vi của Lê Đức T - Nguyễn Đình Q đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 BLHS.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội truy tố Lê Đức T - Nguyễn Đình Q theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo.
[2.2] Về vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét về vai trò phạm tội thì T người giữ vai trò chính trong vụ án, T là người rủ rê, lôi kéo và trực tiếp trộm cắp tài sản. Q đồng ý khi được T rủ, đứng cảnh giới cho T trộm cắp. Vì vậy, T phải chịu mức hình phạt cao hơn Q.
Đối với Lê Đức T, ngày 27/3/2023, Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai phạt 01 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chấp hành xong ngày 24/12/2023 (chưa được xóa án tích) nay lại phạm tội nên thuộc trường hợp “Tái phạm” theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với Nguyễn Đình Q, xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tích cực bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo; sau khi phạm tội đã ra đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ theo Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, mà không cần thiết phải cách ly với xã hội, nên áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện quy định tại Điều 65 BLHS đối với bị cáo là phù hợp.
[2.3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[2.4] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe máy Honda SH mode, biển kiểm soát 29G1-406.42, số khung 090336, số máy 0090185. Quá trình điều tra xác định là xe của bà Trần Thị V mua lại của chị Phạm Thị C1 (sinh năm 1981, Nơi thường trú: số F ngõ F, Tổ I K, phường T, Thành phố Hà Nội), việc Nguyễn Đình Q sử dụng xe vào việc phạm tội bà V không biết. Ngày 30/9/2025, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho bà V là có căn cứ.
[2.5] Về trách nhiệm dân sự và các nội dung khác:
Bị hại đã được Nguyễn Đình Q và gia đình bồi thường xong về dân sự và không yêu cầu bồi thường gì khác, do đó không xem xét.
Đối với điện thoại và xe máy Lê Đức T sử dụng vào việc phạm tội: Xe máy Honda Winer, biển kiểm soát 90B2-999.38 T khai mua qua mạng xã hội vào tháng 6/2025 giá 7.000.000 đồng, ngày 12/8/2025 T đã bán cho người không quen biết. Tra cứu xe đăng ký mang tên anh Đinh Văn T2 (sinh năm 1972, Nơi thường trú: Thôn D, T, xã V, tỉnh Ninh Bình), anh T2 đã bán xe cho một người không nhớ rõ, xe không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng; 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi, T đã bán cho người không quen biết, Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Đối với quán I, xác định có đăng ký kinh doanh đứng tên anh Đỗ Minh N2. Quá trình điều tra, xác định quán không có giấy chứng nhận an toàn phòng cháy, chữa cháy, hoạt động quá giờ quy định, vi phạm khoản 1 Điều 9 Nghị định số 106/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 và khoản 8 Điều 36 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 được sửa đổi theo Điều 1, Nghị định số 27/2018/NĐ-CP ngày 01/3/2018 của Chính phủ. Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
[2.6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Các bị cáo Lê Đức T - Nguyễn Đình Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, phạt: Lê Đức T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/8/2025.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
- Xử lý vật chứng: Không xem xét.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc Lê Đức T - Nguyễn Đình Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Lê Đức T - Nguyễn Đình Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./.
Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, phạt: Nguyễn Đình Q 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao Nguyễn Đình Q cho Ủy ban nhân dân xã H, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thế Lợi |
Bản án số 139/2025/HSST ngày 13/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 139/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên các bị cáo phạm tội
