|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 139/2025/HNGĐ-ST Ngày 19/12/2025 Về việc: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – TÂY NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phụng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Minh Hoàng.
2. Ông Võ Tòng Quân.
Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Thảo Vy là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 – Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Trần Tuyết Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 894/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Phi H, sinh năm 1972 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt);
Số Căn cước công dân: [...], cấp ngày 13/8/2021.
Nơi cư trú: Số C, Khu V, phường T, Thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Bà Lê Thị D, sinh năm 1968 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt);
Số Căn cước công dân: [...], cấp ngày 29/4/2021.
Nơi cư trú: Tổ A, khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Tại đơn khởi kiện ngày 24/11/2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Phi H trình bày:
Ông H và bà D chung sống với nhau từ năm 1991, không đăng ký kết hôn, sau khi cưới vợ chồng sống tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh). Đến năm 1992 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Cả hai đã ly thân từ năm 1992 cho đến ngày nay. Bà D vẫn sống tại khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh, còn ông H sinh sống tại địa chỉ C, Khu V, phường T, Thành phố Cần Thơ. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên ông H yêu cầu ly hôn với bà D.
Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Trần Thị Thu H1, sinh năm 1991. Con chung đã thành niên, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông H trình bày không có
Về nợ chung: Ông H trình bày không có.
Trong quá trình giải quyết, bị đơn bà Lê Thị D trình bày:
Bà D thống nhất lời trình bày của ông H với thời gian sống chung. Cả hai chung sống với nhau từ năm 1991, không đăng ký kết hôn, sau khi cưới vợ chồng sống tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là khu P, phường T, tỉnh Tây Ninh). Đến năm 1992 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Cả hai đã ly thân từ năm 1992 cho đến ngày nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, ông H yêu cầu ly hôn, bà D đồng ý.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Trần Thị Thu H1, sinh năm 1991. Con chung đã thành niên, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà D trình bày không có.
Về nợ chung: Bà D trình bày không có.
Ngoài ra, các đương sự không trình bày gì khác.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Tây Ninh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự và đều có đơn đề
3
nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Về hôn nhân: Do ông H, bà D sống chung không đăng ký kết hôn nên Tòa án không công nhận ông bà là vợ chồng. Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Trần Thị Thu H1, sinh năm 1991, con chung đã thành niên, không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông H chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn ông Trần Phi H, bị đơn bà Lê Thị D có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ là phù hợp với quy định tại các Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
[1]. Về hôn nhân: Ông Trần Phi H và bà Lê Thị D tự nguyện chung sống vào năm 1991, không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, ông bà không có tiếng nói chung thường xuyên cãi nhau. Từ năm 1992 đến nay, ông bà không còn sống chung. Nay tình cảm vợ chồng không còn, ông H yêu cầu ly hôn, bà D đồng ý, thấy rằng: Ông H và bà D sống chung không có đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của ông bà không hợp pháp nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận ông H, bà D là vợ chồng.
[2]. Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Trần Thị Thu H1, sinh năm 1991, con chung đã thành niên, không yêu cầu Toà án giải quyết.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Ông H, bà D trình bày không có, không yêu cầu toà án giải quyết.
[4]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Tây Ninh là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9; Điều 14; Điều 53; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1. Tuyên bố không công nhận ông Trần Phi H và bà Lê Thị D là vợ chồng.
4
2. Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Trần Thị Thu H1, sinh năm 1991, con chung đã thành niên, không yêu cầu Toà án giải quyết.
4. Về tài sản chung: Ông H, bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về nợ chung: Ông H, bà D trình bày không có.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Phi H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí ông H đã nộp theo biên lai thu số 0013133 ngày 24/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận ông H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Ông Trần Phi H và bà Lê Thị D vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Phụng |
Chị Trần Thị Bích L và anh Trần Văn Bảo T vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Minh Hoàng Võ Tòng Quân |
Nguyễn Thị Kim Phụng |
Bản án số 139/2025/HNGĐ-ST ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – TÂY NINH về ly hôn
- Số bản án: 139/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
